12 Thánh tông đồ Audio suy niệm Audio truyện Công giáo Âm nhạc Bài Giảng mp3 Bạn có biết bạn trẻ xa nhà Bảo vệ sự sống Blog tips Ca kịch công giáo Các bài giáo lý của ĐTC Phanxicô Các hội đoàn Các mục chính Các Thánh Các thánh địa Công giáo Các thánh khác Các vấn nạn xã hội Cắm hoa nghệ thuật Câu chuyện Giáng Sinh Châm ngôn công giáo Chiêm ngắm Chúa Chuyện phiếm đạo đời Chuyện về Giáo Lý và Giáo Dục Công Giáo đó đây Danh bạ website các giáo xứ - giáo họ việt nam Danh bạ website công giáo Di sản thế giới Du Lịch Đẹp + Để sống đạo hôm nay Đôi nét về Giáo xứ Đời sống cầu nguyện Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp Đức Mẹ Lama Đức Thánh Cha phanxico Đức Tin và Khoa Học Đường Hy Vọng Gia đình Giải đáp thắc mắc cuộc đời Giáo hạt Vàng Mai Giáo Hội Đông Phương Giáo lý - dân ca Giáo lý - kinh thánh Giáo sử Giáo xứ Media góc học tập Góc khám phá Góc nghệ thuật Góc thư giãn Góp nhặt Hạt Giống Lời Chúa Hình ảnh cổ xưa Hình ảnh Giáo xứ Lộc Thủy học tiếng anh Hướng dẫn sử dụng webblog Kết nối websites Kiến thức phổ thông Kính Đức Mẹ Kinh nguyện hằng ngày bằng tiếng Anh Kinh thánh tiếng anh Lẽ sống Lịch sử các Dòng tu Lịch sử Giáo Hội Việt Nam Lịch sử hình thành Giáo xứ Lộc Thủy Lòng Thương xót Chúa Lộc Thủy Lời Chúa qua bài hát Lời chúa theo chủ đề Mùa Vọng - Advent Năm thánh Lòng Thương Xót Nghe và suy gẫm Nghệ thuật Công Giáo Nghệ thuật sống Ơn gọi-tận hiến Phim công giáo Quỳnh lưu Radio Công Giáo Sách Công giáo sách tháng đức bà Sắc màu cuộc sống Sổ tay sinh hoạt suy gẫm Suy gẫm và Cầu nguyện Suy niệm Lời Chúa Suy niệm Lời Chúa mùa Phục Sinh Suy niệm Lời Chúa mùa TN A Suy niệm Lời Chúa năm A Suy niệm mùa chay Sức khỏe - ẩm thực Tài liệu Công Giáo tổng hợp Tài liệu dạy Giáo Lý Thánh ca Thánh ca cầu nguyện Thánh Ca Hoàng Diệp Thánh Mẫu học Thánh Mẫu La vang Thế giới Công Giáo Thơ - Truyện Công Giáo Thơ Công Giáo Thơ và cuộc sống Thủ thuật blog Thủ thuật facebook Thủ thuật google + Thư Viện Công Giáo Tiếng anh qua Lời Chúa Tiêu điểm Tìm hiểu phụng vụ Tin Công Giáo Tin Giáo xứ Tin tức Giáo xứ Lộc Thủy Tin Việt Nam và Thế Giới Tổ chức kỳ thi Giáo lý Tông huấn Giáo hội Công giáo Trang Trí Giáng Sinh Trắc nghiệm Giáo lý Trắc nghiệm Kinh Thánh Trắc nghiệm năm đức tin Truyện Công Giáo Truyện về Mẹ Tư liệu Giáo hội Công giáo việt nam Tư liệu Giáo phận Vinh Tư liệu Giáo xứ Lộc Thủy Từ vựng công giáo Anh-việt Tv Công giáo TVs và Radios khắp nơi Vấn đáp đức tin công giáo Videos Đặc Sắc Vinh Quang Đức Maria Website Công Giáo bổ ích


Các bài suy niệm CHÚA NHẬT 1 MÙA CHAY – Năm C
Lời Chúa: Dnl 26,4-10; Rm 10,8-13; Lc 4,1-13





* CHÚA NHẬT 1 MÙA CHAY

1. Cám dỗ - ĐTGM. Ngô Quang Kiệt

Cám dỗ là chuyện xưa như trái đất. Từ khi có con người, đã có cám dỗ. Hẳn ta không thể quên chuyện hai ông bà nguyên tổ sa chước cám dỗ của ma quỷ. Dân Do Thái, khi bị nô lệ dưới ách người Ai cập thì muốn được tự do. Nhưng khi lang thang 40 năm trong sa mạc, phải chịu đói khát, lại bị cám dỗ quay trở lại Ai cập để được no ấm. Nhưng có thể nói, 3 cơn cám dỗ mà Đức Giêsu phải đương đầu hôm nay gồm tóm tất cả mọi thứ cám dỗ mà ta thường gặp.
+ Cơn cám dỗ thứ nhất: thoả mãn tức khắc mọi nhu cầu.
Sau khi Đức Giêsu ăn chay 40 đêm ngày. Ma quỷ đề nghị Người biến đá thành bánh mà ăn. Thật là một đề nghị hợp lý. Đói thì phải ăn. Muốn ăn thì phải có bánh. Nhưng có bánh bằng cách nào mới là vấn đề. Không phải cứ có nhu cầu là phải thoả mãn ngay. Và nhất là không được dùng những cách không hợp đạo lý để thoả mãn những nhu cầu của mình. Cơm bánh tượng trưng cho những nhu cầu thiết yếu của con người. Nhu cầu của con người thì có nhiều và có khuynh hướng ngày càng gia tăng. Vì thế cơn cám dỗ thoả mãn nhu cầu ngày càng lớn.
+ Cơn cám dỗ thứ hai: muốn có quyền lực thống trị.
Ma quỷ biết Đức Giêsu muốn cứu độ loài người, nên đề nghị tặng Người tất cả các nước trên trần gian. Có lẽ nhiều người nghĩ rằng đề nghị của ma quỷ là hợp lý. Cứ có quyền thống trị trên hết mọi dân nước rồi nói gì người ta chẳng nghe. Chúa sẽ không phải mất công chịu đau khổ chịu chết. Chỉ cần quỳ xuống thờ lạy ma quỷ, vua quan dân chúng các nước sẽ răm rắp tuân theo. Thật là tiện lợi. Quyền lực là một cơn cám dỗ muôn đời của nhân loại. Từ ngàn xưa, vua chúa các nước đã không ngừng gây chiến để tranh giành quyền lực. Ngày nay, trong các cuộc chiến mới, người ta không còn giết nhau bằng gươm đao, súng đạn, nhưng bằng quyền lực kinh tế, khoa học, kỹ thuật. Tuy êm đềm nhưng cuộc chiến vô cùng khốc liệt. Cơn cám dỗ về quyền lực thống trị không những không suy giảm mà còn mãnh liệt hơn.
+ Cơn cám dỗ thứ ba: tìm những điều kỳ lạ.
Muốn những chuyện thần kỳ. Muốn làm được những việc kinh thiên động địa. Muốn có những thành công lẫy lừng. Cơn cám dỗ này thúc đẩy người ta đổ xô đi tìm phép lạ. Cơn cám dỗ xây tháp Ba ben từ ngàn xưa vẫn còn tiếp diễn.
Xuyên qua những cơn cám dỗ ấy ta thấy ma quỷ thật vô cùng tinh khôn và hiểm độc.
Với cơn cám dỗ thứ nhất, ma quỷ muốn xô đẩy con người làm nô lệ cho dục vọng. Xúi giục con người chỉ tìm thoả mãn những bản năng thấp hèn. Giới hạn con người vào sự sống xác thịt. Đức Giêsu đã vạch trần âm mưu của ma quỷ khi Người cho biết con người không chỉ có đời sống thể lý mà còn có đời sống tâm linh. Người nâng cao phẩm giá con người khi quyết tâm chống lại cơn cám dỗ thoả mãn những nhu cầu thân xác để chăm lo cho sự sống tâm linh.
Với cơn cám dỗ thứ hai, ma quỷ muốn biến con người thành nô lệ cho tham vọng, nô lệ cho ma quỷ. Vì ham hố chức quyền, vì mưu cầu danh vọng mà đánh mất tự do của mình, cam tâm làm nô lệ cho ma quỷ. Vì tham vọng mà đánh mất chính mình. Đức Giêsu vạch trần âm mưu đen tối của ma quỷ khi cương quyết chối từ danh vọng quyền thế. Người còn chỉ cho ta con đường duy nhất phải theo đó là thờ phượng Thiên Chúa. Chỉ có thờ phượng Thiên Chúa mới đem đến cho con người tự do đích thực, tự do trong tâm hồn, không bị nô lệ một tham vọng nào.
Với cơn cám dỗ thứ ba, ma quỷ đẩy con người vào nô lệ cho cuồng vọng. Điên cuồng đến chống lại Thiên Chúa. Dùng Thiên Chúa để phục vụ cho những ước vọng ngông cuồng của mình. Không đến với Chúa trong tâm tình của người con thảo đối với Cha hiền. Đức Giêsu đã vạch trần âm mưu của ma quỷ. Người chỉ cho ta con đường của người con hiếu thảo. Người con hiếu thảo tin cậy phó thác và luôn làm theo ý Cha, chứ không bao giờ dám thách thức Cha. Người con hiếu thảo vâng lệnh Cha sai bảo chứ không bao giờ dám sai bảo Cha.
Cám dỗ của ma quỷ hiểm độc vì nó tiến từng bước: Từ hạ thấp phẩm giá con người khi khiến con người làm nô lệ cho dục vọng đến cướp mất tự do của con người khi xúi giục con người nô lệ cho ma quỷ. Và sau cùng đi đến chỗ tận cùng là chối bỏ Thiên Chúa, không coi Thiên Chúa là cha. Cám dỗ càng hiểm độc vì ma quỷ đã khéo léo học những âm mưu thâm hiểm trong lớp vỏ nhung lụa, êm ái, hợp lý và đầy quyến rũ của những nhu cầu, quyền lực và uy tín.
Ngày nay, những cơn cám dỗ của ma quỷ vẫn như những chiếc bẫy giăng ra để trói buộc con người trong vòng nô lệ. Cám dỗ càng ngày càng tinh vi và càng ngọt ngào hơn nên càng hiểm độc hơn. Muốn chống trả được những cơn cám dỗ, ta phải bắt chước Đức Giêsu dùng những vũ khí sắc bén, đó là ăn chay cầu nguyện, thấm nhuần Lời Chúa và luôn sống tâm tình của người con thảo đối với Chúa.
Lạy Chúa, xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ. Amen.
KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG
1. Bạn đã gặp nhiều cơn cám dỗ, bạn đã chống trả những cơn cám dỗ như thế nào?
2. Có những việc lúc đầu bạn thấy là tốt. Mãi sau này bạn mới biết là xấu. Bạn có nghĩ đó là âm mưu của ma quỷ không?
3. Bạn có ý thức rằng ma quỷ vẫn đang hoạt động mạnh mẽ trong thế giới ngày nay không?
4. Mùa Chay này, bạn sẽ làm gì để phòng chống âm mưu ma quỷ?
 
 

2. Không chỉ nhờ cơm bánh

Suy Niệm
Làm người ở đời là chấp nhận thân phận cám dỗ.
Con người vừa mang trong mình khát vọng vươn tới Tuyệt Đối, vừa thấy mình luôn bị một mãnh lực kéo trì, nên đời người lúc nào cũng phải chiến đấu giằng co, chỉ một chút lơi lỏng yếu mềm là sa ngã.
Con người cao cả khi thắng được cám dỗ trong ngoài.
Lúc buông theo cái tôi dễ dãi tầm thường, tôi chẳng là tôi. Chỉ khi tôi vượt qua tôi, tôi mới thật là mình.
Tôi chỉ là tôi khi tôi vươn tới Chân, Thiện, Mỹ.
Trong mùa Chay, ta hãy để Thánh Thần dẫn vào hoang địa. Hãy cùng với Đức Giêsu sống trong cô tịch, cầu nguyện và ăn chay, để có khả năng nhận ra các cơn cám dỗ quen thuộc.
Biết mình bị cám dỗ thật là một ơn, vì ma quỷ chẳng phải là một con vật có đuôi lộ liễu.
Những cám dỗ của Đức Giêsu cũng là của tôi hôm nay.
Cám dỗ đầu tiên đánh thẳng vào điểm yếu của Ngài.
Sau một thời gian dài nhịn ăn, Ngài thấy đói. Cái đói làm tê liệt, và đụng đến bản năng sinh tồn. Điều duy nhất cần đối với người đói là tấm bánh. Đức Giêsu đã thắng được cơn cám dỗ này. Ngài không phủ nhận sự cần thiết của vật chất, nhưng con người không chỉ sống nhờ cơm bánh.
Lợi nhuận trong kinh tế là điều quan trọng, nhưng không được quên các giá trị văn hoá, luân lý, tôn giáo... Lắm khi cái đói vật chất vẫn chi phối chúng ta. Người ta dễ hiểu sai câu: "Có thực mới vực được đạo."
Chúng ta vẫn bị cồn cào bởi những thèm thuồng: chính đáng và không chính đáng, cá nhân và tập thể, nhưng đừng để mình thoả mãn cơn đói bằng mọi giá.
Cám dỗ thứ hai là một cám dỗ thô bạo và hấp dẫn: bái lạy ma quỷ để được quyền lực và vinh quang.
Có nhiều người nhẹ dạ đã tin vào lời hứa hão này. Bao đế quốc, bao nhà độc tài đã trôi đi trong dòng lịch sử.
Đức Giêsu chẳng muốn nhận quyền từ ai khác ngoài Cha. Chỉ Cha mới là Đấng duy nhất để Ngài thờ phụng.
Cơn cám dỗ thứ ba có vẻ đạo đức, kỳ thực lại là dấu hiệu của sự thiếu lòng tin.
Tôi đưa mình vào tình huống hiểm nghèo, để bắt Chúa hành động.
Nhảy xuống từ nóc Đền Thờ mà không chết, quả là ngoạn mục! Chúng ta vẫn thích Chúa làm chuyện ngoạn mục cho đời ta. Chúng ta không thích sống trong lòng tin êm ả, như đứa con biết rõ Cha thương mình, không đòi kiểm chứng.
Tiền bạc, của cải, sắc đẹp, khoái lạc, bằng cấp, tự do, quyền lực, uy tín, danh dự, chủng tộc, khoa học, kỹ thuật: tất cả những giá trị trên đều đáng quý. Nhưng nếu tôi tôn chúng lên hàng Tuyệt Đối viết hoa, và thờ chúng như một ngẫu tượng, thì tôi và thế giới sẽ như kim tự tháp lật ngược.
Ước gì Chúa giúp tôi tự cởi trói mình mỗi ngày, để tôi càng lúc càng tự do đến gần Đấng Tuyệt Đối.
Gợi Ý Chia Sẻ
Bạn có tin ma quỷ không? Ma quỷ là ai? Bạn có thấy sức cám dỗ của ma quỷ không?
Ma quỷ thường tấn công vào chỗ yếu của ta. Bạn có biết rõ những chỗ yếu của bạn không?
Cầu Nguyện
Lạy Chúa Giêsu, bị cám dỗ là thân phận của con người, nhưng thắng được cám dỗ là nhờ ơn của Chúa.
Cuộc sống hôm nay cho chúng con bao cám dỗ ngọt ngào, làm khuấy động những thèm khát nơi chúng con.
Cám dỗ chiếm đoạt và sở hữu.
Cám dỗ thống trị bằng quyền uy hay tri thức.
Cám dỗ sống buông thả theo bản năng tự nhiên.
Cám dỗ nào cũng hứa cho chúng con ít nhiều hoan lạc, nhưng thật ra lại làm chúng con nghèo nàn vì tự giam mình trong cái tôi ích kỷ.
Xin cho chúng con thắng được các cơn cám dỗ nhờ tỉnh thức và cầu nguyện, nhờ chay tịnh và làm chủ bản thân.
Xin cho chúng con dám lội ngược dòng với thế gian, để đi vào con đường hẹp của Chúa, con đường nghèo khó khiêm nhu, con đường hy sinh phục vụ.
Ước gì chúng con được lớn lên trong tình yêu Chúa, sau những lần chiến đấu vất vả cam go. Và ngay cả khi yếu đuối ngã sa, xin cho chúng con can đảm đứng lên, vững tin vào lòng Chúa tín trung tha thứ. Amen.
 
 

3. Chỉ thờ phượng một mình Người

Suy Niệm
Bị cám dỗ là điều chẳng mấy hay ho. Chúng ta ít khi muốn kể ra những cơn cám dỗ của mình. Dường như chỉ người yếu đuối mới dễ bị cám dỗ. Ấy thế mà Con Thiên Chúa lại bị cám dỗ như ta. Ngài muốn đồng hành với chúng ta trong từng cơn cám dỗ, trên đường về quê trời. Ngài đã mang lấy trọn vẹn phận người mong manh, Ngài đã chiến đấu và chiến thắng.
Mùa Chay là thời gian thuận tiện để chúng ta nhận diện cơn cám dỗ riêng của bản thân.
Có khi chúng ta tưởng Satan là chuyện bịa đặt, tưởng thế giới không bao giờ là thế gian, hay tưởng thân xác mình chẳng còn bằng xương thịt.
Phải nhận ra cơn cám dỗ dưới trăm ngàn bộ mặt, tuỳ người, tuỳ tuổi tác, tuỳ hoàn cảnh riêng tư.
Nhưng mọi cơn cám dỗ đều khép kín con người, khiến ta không còn mở ra trước Thiên Chúa và tha nhân.
Cần nhìn sâu vào những cơn cám dỗ của Đức Giêsu để thấy đó vẫn là những cám dỗ muôn thuở.
Biến đá thành bánh để làm dịu cơn đói, chuyện đó đâu có gì xấu. Nhưng Đức Giêsu đã không muốn dùng quyền năng Cha ban để tự lo cho bao tử của mình.
Ngài cũng không phục lạy ma quỷ để được làm chủ cả thế gian với bao quyến rũ.
Ngài cũng chẳng cần nhảy từ nóc Đền Thờ xuống để kiểm chứng tình yêu của Cha. Ngài không muốn cứu nhân loại bằng cách nhảy xuống, giữa tiếng vỗ tay của bao người đứng dưới.
Ngài muốn cứu con người bằng cách bị treo lên thập tự, giữa những tiếng nhục mạ cười chê.
Đức Giêsu thật là Con Thiên Chúa vì Ngài đã trung tín với Cha đến cùng.
Cuộc sống văn minh cho chúng ta nhiều cám dỗ hơn, ngọt ngào hơn, hấp dẫn hơn, tinh vi hơn.
Cơn cám dỗ nào cũng đặt chúng ta trước sự chọn lựa, và chọn lựa nào cũng đòi từ bỏ, hy sinh. Bởi vậy cơn cám dỗ lại có thể làm tôi lớn lên và cứng cáp hơn sau mỗi lần chiến thắng.
Ước gì tôi không bị mắc bẫy Satan nhờ noi gương Đức Giêsu trong ăn chay, cầu nguyện.
Gợi Ý Chia Sẻ
Đối với bạn, loại cám dỗ nào đáng sợ hơn cả? Bạn đã làm gì để thắng được loại cám dỗ đó?
Qua báo chí, truyền hình... bạn thấy con người ở cuối thế kỷ 20 bị cám dỗ về những điều gì?
Cầu Nguyện
Lạy Ngôi Lời Thiên Chúa rất đáng mến, xin dạy con biết sống quảng đại, biết phụng sự Chúa cho xứng với uy linh Ngài, biết cho đi mà không tính toán, biết chiến đấu không ngại thương tích, biết làm việc không tìm an nghỉ, biết hiến thân mà không mong chờ phần thưởng nào ngoài việc biết mình đã chu toàn Thánh Ý Chúa. Amen.
 
 

4. Tiến tới một tình yêu chân thật hơn, tinh tuyền hơn.

Thử thách là mối nguy cho tình yêu, nhưng cũng nhờ nó mà tình yêu mạnh hơn, vì trong cơn thử thách sự tự do của con người luôn luôn hướng đến tích cực. Thử thách giống một nốt nhạc đối vị làm nổi bật giai điệu thánh thót trầm hùng và sứ truyền cảm của bản hoà tấu. Đức Giêsu đã muốn chịu thử thách của cám dỗ. Suốt cuộc đời trần thế của Người, Chúa gặp thử thách, nó là đối vị với ý định bên trong của Người. Tất cả con người Chúa hướng tới mục đích hoàn tất ý muốn của Cha. Chúa đã muốn đối đầu với thử thách trong tư thế lãnh đạo Giáo Hội. Chúa đã chịu thử thách, tất nhiên Giáo Hội của Chúa và mỗi tín hữu thành phần Giáo Hội cũng phải qua cầu thử thách và phải phản ứng như Chúa. Giống Thày, tín hữu phải dùng thử thách làm dịp thử lửa tôi luyện một tình yêu lớn mạnh hơn, nghĩa là thực hiện một sự gia nhập vững bền hơn vào thánh ý của Cha qua trung gian Đức Kitô.
Thử thách có những hình thức chính yếu nào?
1) Trước hết, là từ chối thân phận làm người với tất cả thực chất của nó. Ma quỷ cám dỗ Chúa, nài Chúa hãy dùng quyền năng thần linh của Chúa để thoả mãn một nhu cầu vật chất của Người là đói thì cần có của ăn. Biết bao phen chúng ta chẳng nghe thấy người ta nói: Thiên Chúa đáng lẽ phải làm thế này thế nọ để thiết lập sự bình đẳng, để mọi người có cơm ăn áo mặc, để khỏi lao động vất vả, v.v… Thiên Chúa trả lời rằng nhân loại được ban cho một trí tuệ, một ý chí, một thân thể để tuỳ tiện sử dụng. Thảm trạng con người là ở chỗ khác. Hoạt động làm cho người ta quên mất rằng con người không chỉ sống bằng lương thực vật chất. Đức Giêsu không muốn bỏ thân phận làm người của Chúa cho nên Chúa từ khước biến đá thành bánh ăn. Tuy nhiên Chúa nói thêm rằng con người cũng sống bởi bác ái, tình liên kết, công bằng và tình thương – và thứ bánh này do Thiên Chúa ban cho, thiếu của ăn thiêng liêng thì của ăn nuôi xác cũng sẽ thiếu, hoặc sẽ hư đi.
2) Hình thái khác của thử thách là muốn liên hiệp Thiên Chúa với những tính toán mờ ám. Ma quỷ ngỏ ý muốn giúp Chúa, với điều kiện: “Nếu Ngài sấp mình thờ lạy tôi, tôi sẽ cho Ngài quyền bá chủ thế giới”. Đây là chước cám dỗ thường xảy ra.
Những luận điệu nào bàn kế cho Giáo Hội: “Nếu chịu liên minh với thế gian, Giáo Hội sẽ thu phục được thế gian?”. Giọng lưỡi nào xui chúng ta: “Nếu bạn khôn khéo điều đình thu xếp với Sự Thật, với bổn phận, v.v… bạn sẽ làm được điều này điều nọ?” –Nhưng mệnh lệnh của Đức Giêsu là: “Ngươi sẽ chỉ tuân phục Thiên Chúa mà thôi”
3) Một xu hướng nữa là muốn thay thế những phương tiện của Thiên Chúa bằng những phương tiện khác thường. Chủ trương cứu độ của Đức Kitô, tức là Tin Mừng về một thế giới tốt hơn, lan truyền bằng nhưng phương tiện người ta mệnh danh là “nghèo nàn”, trong đó có nhục nhã, đau khổ và chết. Con người nhất là con người có nhiều kiến thức, luôn luôn có khuynh hướng lựa chọn những phương tiện có nhiều uy thế. Chẳng hạn, uy thế của một triết lý nào đó mà trùm lấp Phúc Âm thì kéo theo một rủi ro lớn, có thể thay đổi ý nghĩa và tinh thần Phúc Âm, cho dẫu những người chất phác thán phục hết sức trước “thắng lợi” của nó. Một mệnh lệnh khác của Chúa Giêsu là: “Ngươi chớ cám dỗ Thiên Chúa là Chúa ngươi”, nghĩa là chớ lợi dụng quyền năng Thiên Chúa vào những việc gì ở ngoài công cuộc của Người.
 
 

5. Sống là chiến đấu

Trong chuyến viếng thăm Giáo Hội tại Lituani vào tháng 9 năm 1993, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã đến cầu nguyện tại một ngọn đồi nổi tiếng của nước nầy, thường được mệnh danh là “Ngọn đồi Thập Giá”.
Ngọn đồi này nằm tại một ngôi làng hẻo lánh. Qua suốt dòng lịch sử của dân tộc, cứ mỗi lần có một người dân trong làng ngã gục ngoài mặt trận thì toàn dân trong làng tập trung lại để tưởng niệm và dựng lên một cây thập giá.
Dưới thời Nga Hoàng cũng như dưới thời Liên Xô đã có không biết bao nhiêu người dân làng ngã gục để bảo vệ nền độc lập của xứ sở. Binh lính và công an đã làm mọi cách để triệt hạ thập giá khỏi ngọn đồi. Trong ba thế kỷ liền, ngọn đồi thập gái đã không ngừng bị san bằng bởi những bàn tay vô đạo. Nhưng cứ đêm đến, người dân trong làng lại lẳng lặng dựng lên những cây thập giá khác. Cuộc chiến của thập giá cứ tiếp diễn như thế cho đến khi tự do được thực sự vãn hồi.
Ngày nay khách hành hương tìm đến ngọn đồi thập giá nầy để nhận ra biểu trưng của một niềm tin sắt đá, của khát vọng tự do, và cuối cùng, của chiến thắng.
Anh chị em thân mến,
Có niềm tin hay không, có sống đạo hay không, dường như ai cũng có ý thức được rằng cuộc đời là một trận chiến. Giáo Hội không ngừng mời gọi các Kitô hữu chúng ta sống lại cuộc chiến đấu của Chúa Giêsu trong sa mạc. Mời gọi chúng ta sống lại kinh nghiệm chiến đấu của Chúa Giêsu, Giáo Hội muốn nhắc nhở chúng ta rằng cuộc sống niềm tin Kitô là một cuộc chiến đầu trường kỳ.
Các sách Tin Mừng Nhất Lãm đều kể rằng sau khi được tấn phong bên bờ sông Giođan, Chúa Giêsu vào sa mạc đương đầu với Satan. Thánh Marcô chỉ nói vắn tắt rằng, Chúa Giêsu ở trong sa mạc 40 ngày và chịu Satan cám dỗ. Còn thánh Matthêu và Luca lại kể rõ ba chước cám dỗ của Satan, nhưng theo thứ tự hơi khác nhau. Theo thánh Luca, những chước cám dỗ của Satan phải được giải thích trong mối liên hệ chặt chẽ với cuộc tử nạn thập giá của Chúa Giêsu. Các chước cám dỗ nhằm lôi kéo Chúa Giêsu đi trệch đường lên thành Giêrusalem dẫn đến đỉnh đồi thập giá. Chính vì để nhấn mạnh ý nghĩa của đỉnh đồi thập giá ở Giêrusalem mà thánh Luca đã sắp xếp lại thứ tự các chước cám dỗ, để cho chước cám dỗ sau cùng xảy ra ở Giêrusalem là đích điểm của con đường Ngài đã dứt khoát chọn lựa ngay từ đầu sứ vụ Cứu Thế.
Do đó, Thánh Luca sắp xếp cám dỗ thứ nhất là Satan thách đố Chúa Giêsu biến sỏi đá thành cơm bánh ăn: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy làm cho đá nầy trở thành bánh đi!” Ý đồ của Satan là xúi Chúa Giêsu vận dụng quyền năng Thiên Chúa trao cho Ngài để phục vụ bản thân mình trước đã. Nhưng Chúa Giêsu đã từ chối. Ngài là Con Thiên Chúa không phải để phục vụ bản thân mình, nhưng để làm công việc Thiên Chúa trao cho Ngài. Ngài đến để phục vụ và làm theo ý Đấng đã sai Ngài. Satan muốn xúi Chúa Giêsu lấy mạng sống riêng của mình làm cứu cánh, chỉ có mạng sống là đáng quý, chỉ có bản thân là đáng trọng, không còn gì quý và cao cả hơn nữa.
Dân Israel khi ở trong sa mạc cũng đã bị cám dỗ như vậy. Khi họ hết lương thực, họ quên tất cả giá trị của cuộc giải phóng khỏi Ai Cập, tất cả niềm tự hào được trở thành người tự do. Trước nguy cơ chết đói, họ sẵn sàng đánh đổi tất cả: Thà làm nô lệ mà được ăn no hơn được tự do mà phải chết đói. Nhưng Thiên Chúa đã muốn cho họ thấy: còn có một cái gì đáng quý trọng hơn nữa, hơn cả mạng sống: “Người ta không sống nhờ cơm bánh mà thôi, mà còn nhờ Lời Chúa nữa” (Đnl 8,3). Chúa Giêsu dùng lời ấy để khẳng định rằng: mạng sống trần gian không phải là tất cả đâu. Ngài đã lãnh nhận cuộc sống làm người không phải để khư khư giữ lấy, nhưng là để cho đi, để hiến mình cho mọi người được sống.
Cám dỗ thứ hai là Satan hứa sẽ trao cho Chúa Giêsu mọi quyền lực và vinh quang của các vương quốc trên trần gian nầy, nếu Chúa Giêsu chịu thờ lạy nó. Cái “xạo” của Satan là ở chỗ nó cho rằng nó là bá chủ mọi vương quốc trần gian và có quyền ban quyền lực và vinh quang cho Chúa Giêsu. Satan muốn Chúa Giêsu nhìn nhận rằng: chỉ có quyền lực và vinh quang của mọi vương quốc trên trần gian này là đáng quý. Chúa Giêsu muốn được hưởng thì cứ thờ lạy là xong ngay. Để trả lời Satan, Chúa Giêsu phán: “Mi phải thờ lạy Chúa là Thiên Chúa của mi, và mi chỉ phải thờ phượng một mình Ngài mà thôi” Đnl 6,13). Sau nầy, Philatô sẽ phải công khai nhìn nhận rằng: Chúa Giêsu chẳng hề có dụng ý tranh cướp quyền lực và vinh quang của Đế quốc Rôma.
Dân Israel khi xưa đã đúc bò vàng để thờ thay vì thờ phượng Thiên Chúa. Đó là tội bất trung của Israel đối với Thiên Chúa. Chúa Giêsu dứt khoát trả lời Satan: Mi không phải là Thiên Chúa. Quyền lực và vinh quang trên trần gian không phải là tất cả. Chỉ có Thiên Chúa mới đáng thờ lạy, chỉ có Thiên Chúa mới có quyền lực và vinh quang thật để ban cho Ngài.
Cám dỗ thứ ba là Satan xúi Chúa Giêsu thử thách quyền năng Thiên Chúa; vận dụng quyền năng Thiên Chúa để mở một con đường tắt mà hoà thành sứ mạng; nếu Chúa Giêsu nhảy từ đỉnh cao của đền thờ Giêrusalem xuống mà an toàn thì tất nhiên mọi người sẽ theo Ngài. Chúa Giêsu không theo đường tắt Satan đề nghị. “Ngài hạ mình vâng phục cho đến nỗi bằng lòng chết và chết trên thập giá” để thực hiện công cuộc của Chúa Cha. Ngài mời gọi ai muốn theo Ngài thì hãy bỏ mình đi, vác thập giá của mình mà đi theo Ngài.
Dân Israel trong sa mạc khi thiếu nước uống, họ đã thử thách Thiên Chúa. Chúa Giêsu đáp lại Satan: “Ngươi đừng thử thách Thiên Chúa của ngươi” (Đnl 6,16). Chúa Giêsu đã không thử thách Thiên Chúa nhưng hoàn toàn tin tưởng và phó thác trọn vẹn cho Thiên Chúa khi Ngài đi vào con đường tuyệt vọng nhất – con đường thập giá.
Chúa Giêsu đã chiến thắng hết mọi chước cám dỗ của Satan. Trong suốt thời gian Chúa Giêsu rao giảng, ma quỷ tiếp tục thua dài hết keo này đến keo khác. Nó không còn chước nào để cám dỗ Ngài nữa. Cuối cùng Satan nhập vào Giuđa Iscariôt (một trong mười hai môn đệ) để nộp Ngài. Trong cuộc giao chiến này, Satan sẽ cướp được mạng sống của Chúa Giêsu. Nếu quả thật không có gì khác ngoài cuộc sống trần gian thì Satan đã thắng rồi. Nhưng chính lúc cướp được mạng sống của Chúa Giêsu, Satan đã đại bại, bởi vì Thiên Chúa đã cho Đức Giêsu từ trong cõi chết sống lại và đặt Ngài làm Chúa, khiến cho mọi loài trên trời dưới đất khi nghe Danh Giêsu thì phải quỳ gối mà tuyên xưng Đức Giêsu là Chúa, để làm vinh danh Thiên Chúa Cha. Đây là cuộc chiến thắng dứt khoát và vĩnh viễn.
Anh chị em thân mến,
Đọc lại đoạn Phúc âm này vào ngày Chúa Nhật đầu Mùa Chay, Giáo Hội muốn mời gọi chúng ta suy nghĩ về cuộc sống Kitô hữu như một cuộc chiến đấu với Satan. Chúa Giêsu đã chiến thắng Satan, làm con Thiên Chúa. Nhưng chúng ta còn phải thể hiện bản chất con Thiên Chúa ấy trong cuộc sống. Chúng ta phải đích thân chiến thắng Satan trong cuộc sống của chúng ta. Chúa Giêsu đã chiến thắng để cho chúng ta có thể chiến thắng nhờ Thánh Thần Ngài ban cho, nhưng không hề miễn cho chúng ta khỏi chiến đấu. Mùa Chay là thời kỳ tập luyện tích cực để chiến đấu với Satan.
Những cám dỗ mà Satan đã đem ra dụ dỗ Đức Giêsu vẫn là những cám dỗ muôn đời của con người.
Cơm ăn, áo mặc, danh vọng, tiền của, quyền uy, thế lực. Có những người, để làm giàu cho bản thân mình đã tán tận lương tâm, chà đạp mọi quy luật của đạo đức… Có những người, vì danh vọng, vì quyền lực, đã sẵn sàng sinh sát anh em đồng bào mình… Những cám dỗ ấy liên tục xảy ra trong cuộc sống chúng ta. Nếu chúng ta không cảnh giác, không được trang bị bằng ánh sáng và sức mạnh Lời Chúa, chúng ta sẽ ngã gục lúc này không hay!
Càng có điều kiện để làm giàu, có điều kiện để thụ hưởng danh vọng và nắm giữ quyền lực, càng dễ bị Satan cám dỗ. Có của mà vẫn sống lương thiện, hưởng thụ danh vọng mà vẫn khiêm tốn, hiền hoà, nắm giữ uy quyền mà vẫn là người phục vụ chân thực… đó là một thử thách lớn, là một cuộc đấu tranh gay gắt. Những cơn cám dỗ đến với Chúa Giêsu, các Lời Chúa đáp lại, và sự vượt thắng cám dỗ của Chúa vẫn là cái gì gần gũi với chúng ta ngày hôm nay, trong cả cuộc sống, nếu không muốn nói là từng giây phút, khi mà các nhu cầu tối thiểu còn là vấn đề quan trọng và cấp bách, khi mà lòng tham quyền bính và bả vinh hoa vẫn làm cho nhiều người mong bước vào.
Muốn chống trả và chiến thắng Satan, cần phải có tinh thần từ bỏ và tấm lòng siêu thoát. Chúa Giêsu đã chiến thắng Thần Chết và tội lỗi. Chúng ta cũng có thể chiến thắng mọi cám dỗ và thử thách, nếu chúng ta biết dựa vào Thiên Chúa, biết dùng vũ khí vạn năng mà Chúa Giêsu đã trao cho chúng ta. Lời Chúa mà thánh Luca ghi lại vẫn là lời nhắc nhở các tín hữu, đừng để sa vào các cơn cám dỗ, mà ngày nay không khác với ngày xưa, nếu không muốn nói là còn lộ liễu hơn. Hãy lấy chính Lời Chúa làm sức nâng đỡ, lời chỉ đạo, và hãy lấy tâm gương Chúa làm tiêu chuẩn cho cuộc sống để đương đầu với những cơn thử thách bất cứ từ đâu tới.
 
 

6. Chống lại cám dỗ - McCarthy

Suy Niệm 1. CHƯỚC CÁM DỖ CỦA ĐỨC GIÊSU
Một số người cho rằng thật khó mà tin rằng Đức Giêsu có thể bị cám dỗ. Mặc dù có bản chất thần thánh, nhưng Người cũng có một bản chất của con người. Ngoài ra, tự thân chước cám dỗ không phải là một tội lỗi. Có phải ma quỷ đã thực sự hiện ra với Người không? Chúng ta không biết. Điều chính yếu là những chước cám dỗ của Người đều có thật, giống như chúng ta vậy, mặc dù quỷ sứ không hiện ra với chúng ta trong hình dạng của một con người. Nhưng những chước cám dỗ của Người chứa đựng cái gì?
Chước cám dỗ đầu tiên là biến hòn đá thành bánh. Ngoài ý nghĩa rõ rệt, chữ “bánh” có thể mang ý nghĩa là những thứ vật chất nói chung. Ma quỷ đang nói với Đức Giêsu là hãy sử dụng những quyền năng đặc biệt của Người, để mang lại cho con người tất cả những thứ vật chất mà có thể họ mong muốn. Nhưng Đức Giêsu biết rằng tự thân những thứ vật chất đó sẽ không bao giờ thoả mãn được con người. Công việc chính của Người là nuôi dưỡng tâm trí và tấm lòng con người bằng lời của Thiên Chúa.
Đây là chước cám dỗ mang lại cho con người những điều họ mong muốn, hơn là những nhu cầu của họ. Chước cám dỗ chính là thoả mãn đám đông, bằng cách cho họ những gì sẽ thoả mãn các mong muốn nhất thời của họ, khi họ không biết điều gì mình thực sự cần đến.
Chúng ta có những nhu cầu và những khát vọng lớn lao hơn. Tâm hồn con người thực sự khát khao cái gì? Chắc hẳn rằng đó không phải là cơm bánh. Cơm bánh là cái mà cơ thể thèm khát. Sau phép lạ ban bánh và cá, ngày hôm sau, dân chúng trở về với mong muốn sao cho có thêm bánh nữa. Nhưng Đức Giêsu đã từ chối ban thêm bánh cho họ. Người nói “Các ngươi đừng lạm việc vì của ăn không thể tồn tại được, nhưng hãy làm việc để tìm kiếm lương thực kéo dài cho đến cuộc sống đời đời”.
Đối với một vị thầy về mặt thiêng liêng, thì tinh thần chiếm vị trí ưu tiên vượt lên trên lương thực của cơ thể. Khi đặt ưu tiên cho những nhu cầu thân xác, điều đó có nghĩa là giảm giá trị con người, là đối xử với họ không hơn gì một con vật. Chúng ta cũng bị cám dỗ chỉ sống cho những thứ vật chất mà thôi. Không phải là chúng ta khước từ đời sống thiêng liêng, nhưng chúng ta bỏ qua đời sống đó.
Chước cám dỗ thứ hai là tạo dựng một vương quốc chính trị, là việc dẫn đến quyền lực hơn là tình yêu. Quyền lực tạo ra một sự thay thế dễ dàng cho công việc khó khăn mà có thể tình yêu đòi buộc. Người ta dễ dàng muốn làm chủ người khác, hơn là yêu thương họ, dễ dàng thống trị người khác, hơn là trở thành người phục vụ họ. Đức Giêsu không đến để cai trị, nhưng để phục vụ. Người không hề nại vào quyền lực thần thánh của Người, nhưng đã tự huỷ mình ra không, và trở thành người tôi tớ đầy yêu thương đối với tất cả mọi người. Chúng ta luôn luôn bị cám dỗ thay thế tình yêu bằng quyền lực.
Chước cám dỗ thứ ba cốt ở việc làm được một điều gì đó kỳ lạ (tự gieo mình xuống khỏi Đền Thờ) nhằm khơi gợi lòng tin –giống như một ảo thuật gia có thể khơi gợi được lòng tin, qua nghệ thuật làm một số chuyện mang tính cách quảng cáo phô trương. Ý tưởng này nghe thật hấp dẫn. Một kiểu quảng cáo như vậy sẽ làm cho mọi người đồn thổi về Người tại Giêrusalem. Nhưng lối gây giật gân lại đưa đến vinh quang cho bản thân mình, hơn là vinh quang cho Thiên Chúa. Đức Giêsu khước từ việc gieo mình này. Người không muốn tìm kiếm những kẻ ái mộ mình. Người mong muốn có những kẻ đi theo Người, nghĩa là những kẻ muốn bắt chước lối sống của Người.
Trong suốt sứ vụ của Người, Đức Giêsu đã khước từ việc ban cho dân chúng những kiểu dấu lạ, ngay cả khi người ta ép buộc Người phải làm như vậy. Những loại dấu lạ này không có ích lợi gì cả, không đòi hỏi điều gì tốt đẹp nhất nơi chúng ta, mà chỉ hạ thập giá trị của lòng tin. Lòng tin không phải là ma thuật. Sự thánh thiện không hệ tại ở việc cố gắng ép buộc Thiên Chúa phải làm theo ý muốn của chúng ta, nhưng là nỗ lực bắt buộc chính bản thân mình phải làm theo thánh ý Thiên Chúa.
Các chước cám dỗ là đòn tấn công trên tất cả những yếu tố cơ bản đối với sứ vụ của Đức Giêsu. Vâng, Người đến để thiết lập một vương quốc, nhưng không phải là loại vương quốc mà Satan đề nghị. Và Người đã khước từ chước cám dỗ đạt được vương quốc bằng phương tiện trần thế.
Cả ba chước cám dỗ cuối cùng đều quy hướng về cùng một điều: đặt những thứ vật chất và vinh quang bản thân lên trước hết, kế đó, mới đến các điều thiêng liêng và Thiên Chúa. Nói chung, đây là những chước cám dỗ chủ yếu trong Giáo Hội của Người, và nơi mỗi người chúng ta là các thành viên trong Giáo Hội. Chúng ta phải luôn hướng mắt về Đấng đã khước từ biến những hòn đá thành bánh, tự gieo mình xuống khỏi nóc Đền Thờ, và cai trị bằng quyền lực.
Kinh nghiệm này đã giúp cho Đức Giêsu tự thấu hiểu sứ vụ của Người là gì, và làm thế nào để hoàn tất sứ vụ đó. Và một khi đã biết được sứ vụ của mình là gì, thì Người quyết định hoàn toàn tận hiến cho sứ vụ đó.
Chước cám dỗ không phải là những thứ chỉ xảy ra một lần mà thôi, không bao giờ chúng kết thúc, mà có thể trở lại một lần khi có cơ hội. Trong suốt cuộc đời của Đức Giêsu, chước cám dỗ vẫn tiếp tục xảy ra, bởi vì ma quỷ vẫn cứ tìm mọi cách để xói mòn sứ vụ của Người, mặc dù là vô hiệu. Ngay cả khi Người đã bị treo trên thánh giá, chúng ta vẫn nghe thấy tiếng vang vọng của chước cám dỗ thứ hai “Nếu ông ta là Đấng Mêsia, thì ông ta hãy xuống khỏi thánh giá, rồi chúng ta sẽ tin ông ấy”.
Tất cả những ai đang đấu tranh để sống một cuộc sống tốt đẹp, đều có thể ghi lòng tạc dạ điều này: Việc chống trả lại chước cám dỗ không hề dễ dàng đối với Đức Giêsu, cũng không dễ dàng đối với chúng ta. Nhưng nơi Đức Giêsu, chúng ta có được một người anh, Đấng biết được rằng chúng ta đang phải chiến đấu với cái gì. Người tha thứ cho chúng ta, và nâng chúng ta lên, khi chúng ta vấp ngã. Người ban cho chúng ta khả năng tuân theo lời của Thiên Chúa, tin tưởng nơi Người và chỉ thờ phượng một mình Người mà thôi.
Suy Niệm 2. KHÔNG CHỈ BẰNG CƠM BÁNH
Con người không chỉ sống bằng cơm bánh. Cơm bánh chỉ là một trong những thức ăn chủ yếu của cuộc sống –cuộc sống thân thể. Để nuôi dưỡng một con người, không giống như vỗ béo một con vật. Cơ thể của chúng ta cần có lương thực. Những linh hồn của chúng ta cũng vậy. Linh hồn của chúng ta đang khao khát lương thực nuôi dưỡng. Câu chuyện về Elvis Presley minh hoạ hùng hồn cho chân lý này.
Elvis trở nên rất giàu có. Ông ta sở hữu 8 xe hơn, 6 xe máy, 2 máy bay, 16 T.V., một toà lâu đài rộng lớn, và nhiều tài khoản ngân hàng. Vượt lên trên tất cả những thứ đó, anh ta còn là thần tượng của nhiều người hâm mộ. Tuy nhiên, anh không hề có hạnh phúc. Giữa tất cả sự giàu có và thành công của mình, anh ta đã phải trải qua tình trạng bất ổn về tinh thần, và thường than phiền về nỗi cô đơn, buồn chán.
Anh giãi bày tâm sự với một phóng viên “Tiền bạc gây ra nhiều chuyện nhức đầu”.
Mẹ của anh rất lo lắng cho anh. Không bao giờ bà muốn anh bị những chuyện đó. Bà chỉ đơn giản mong muốn anh trở về nhà, mua một cửa hàng bán vật dụng trong nhà, cưới vợ và có con.
Càng ngày, anh càng trở nên sợ hãi và trầm cảm. Năm lên 22 tuổi, anh nhận thấy là không còn thế giới nào để chinh phục nữa. Tình trạng bất ổn này có thể là một cơ hội. Đây là một lời nhắc nhở rõ ràng rằng “con người không chỉ sống nguyên bằng bánh”, nghĩa là chỉ sống bằng những thứ vật chất mà thôi.
Thông điệp này vang lên lớn tiếng và rõ rệt trong bài Tin Mừng hôm nay. Đây là một thông điệp quan trọng, và có lẽ thích hợp với ngày nay hơn bao giờ hết. Mặc dù chúng ta có thể nhận thấy được lẽ phải của bức thông điệp này, nhưng trên thực tế, thật không dễ dàng thực hiện. Chúng ta không chỉ sống bằng cơm bánh –ít nhất là không, nếu chúng ta mong muốn được sống dồi dào, và hoàn toàn được nuôi dưỡng với tư cách là con người và con cái của Thiên Chúa. Vậy chúng ta còn cần đến điều gì khác nữa. Chúng ta cần đến Lời Chúa.
Bạn hãy thử tưởng tượng cảnh cha mẹ nuôi dưỡng con cái của họ, mà không bao giờ nói một lời nào với con trẻ, không hề hướng dẫn, khích lệ, xác nhận, an ủi. Không bao giờ họ nói một lời để truyền đạt sự bình an và đón nhận, hoặc tình yêu thương và niềm vui. Cơ thể của con trẻ có thể được nuôi dưỡng, nhưng tâm trí và linh hồn của chúng bị trống rỗng. Chúng ta là con cái của Thiên Chúa. Chúng ta cần được nghe Lời của Người.
Nếu chỉ có cơm bánh, không phải lúc nào cũng sẽ đảm bảo được sự sống còn, ngay cả về mặt thể lý. Thi sĩ Irina Ratushinkaya đã sống một thời gian trong nhà tù cộng sản ở Ngài (với tư cách là tù nhân chính trị). bà nói “Nhiều người phụ nữ có nhiều thức ăn hơn tôi, tuy nhiên, họ vẫn bị chết”. Điều gì đã giữ cho bà còn sống được. Chắc hẳn là nhờ đức tin Kitô giáo của bà.
Không phải chỉ có cơ thể con người mới đói khát. Tâm hồn và tinh thần con người cũng biết đói khát nữa. Chúng ta sẽ không được nuôi dưỡng đầy đủ, cho đến khi chúng ta thừa nhận sự đói khát của tâm hồn và tinh thần.
Đức Giêsu thách đố chúng ta hướng tới những nỗi khát khao sâu xa hơn và những nhu cầu lớn lao hơn của chúng ta. Tâm hồn thực sự khát khao điều gì? Thưa rằng tâm hồn khát khao lương thực không thể hư nát –Lời Chúa. Lời Chúa có sức mạnh nuôi dưỡng chúng ta. Lời Chúa nuôi dưỡng chúng ta bằng tấm bánh của cuộc sống có ý nghĩa, tấm bánh của niềm hy vọng, và vượt lên trên tất cả, đó là tấm bánh của tình yêu.
CÂU CHUYỆN KHÁC.
Đức Giêsu đã trải qua 40 ngày trong sa mạc, trong sự suy niệm và cầu nguyện. Sa mạc có thể là một nơi khắc nghiệt, nhưng đó lại là một chỗ lý tưởng để suy niệm và cầu nguyện.
Kinh nghiệm sa mạc đến vào giây phút quan trọng trong cuộc đời của Đức Giêsu, thời gian của sự thức tỉnh lớn lao. Không thể nào gọi là cường điệu, khi nói về tầm quan trọng của sa mạc đối với Đức Giêsu. Thật vậy, càng ngày, Người càng yêu thích sự cô tịch, và có thói quen tìm đến với sa mạc, vào những lúc khó khăn trong cuộc đời của Người. Khi dân chúng và các sự kiện tìm cách vây bọc lấy Người, thì Người sẽ lẻn vào nơi hoang vắng, để tự phục hồi và lại hiến thân cho Chúa Cha. Hiện tại, Người đang đào sâu cảm nhiệm sa mạc đầu tiên này.
Chúng ta cũng cần có một nơi yên tĩnh để suy niệm và cầu nguyện. Thông thường, chúng ta hay sống một cách điên rồ và thiếu mất đời sống thiêng liêng, cứ để mặc cho những ước muốn ngu xuẩn đưa dẫn, và những thói quen ích kỷ đầu độc. Chúng ta bị những tiếng ồn ào và những sinh hoạt liên tục vây hãm. Chúng ta đặt sai những thứ tự ưu tiên. Chúng ta không thể hoặc không muốn sự cô tịch, không muốn được yên tĩnh, không muốn cảnh tĩnh mịch. Và chúng ta lại thắc mắc tại sao mình không có hạnh phúc tại sao mình cảm thấy không dễ dàng gì trong việc tiếp cận với người khác, và tại sao mình không thể nào cầu nguyện được.
Chúng ta cần đến sự cố tích. Khi ở một mình, chúng ta bắt đầu đứng trên đôi chân của mình, trước mặt Thiên Chúa và thế giới, và hoàn toàn chấp nhận chịu trách nhiệm đối với cuộc sống của bản thân. Các ẩn sĩ đi vào sa mạc, không phải để tự để tự đánh mất, nhưng là để tìm được chính mình. Trong sự cổ tích, chúng ta gặp gỡ những trò quỷ quái của chúng ta, những đam mê, thú tính, cơn tức giận, nhu cầu được nhìn nhận và được tán thành của chúng ta.
Và chúng ta không đi vào nơi hoang vắng để tránh khỏi người khác, mà để tìm thấy họ trong Thiên Chúa. “Chỉ khi ở nơi cô tịch và thinh lặng, tôi mới có thể tìm thấy sự tử tế mà nhờ đó, tôi có được khả năng để yêu mến các anh chị em tôi” (Thomas Merton).
 
 

7. Chiến đấu với cám dỗ

Chúng ta đã từng thấy có một số cột mốc lớn trong cuộc đời Chúa Giêsu, và đây là cột mốc lớn hơn hết. Trong Đền Thờ, khi được mười hai tuổi, Ngài đã nhận thức rằng Thiên Chúa là Cha Người theo một ý nghĩa đặc biệt. Khi Gioan xuất hiện, Ngài cảm kích giờ của Ngài đã điểm, trong lễ rửa Thiên Chúa đã tỏ ra việc chuẩn y. Bây giờ Chúa Giêsu sắp bắt đầu chiến dịch của Ngài. Muốn bắt đầu một chiến dịch, người ta phải chọn nhưng phương sách sẽ dùng. Câu chuyện cám dỗ cho chúng ta thấy Chúa Giêsu đã dứt khoát chọn lựa phương cách Ngài sẽ sử dụng để đem con người trở về cùng Thiên Chúa. Nó cho ta thấy Chúa Giêsu từ bỏ con đường vinh quang quyền thế, chấp nhận con đường thập giá khổ đau. Trước khi đi vào chi tiết câu chuyện, có hai điểm cần lưu ý:
1. Đây là một câu chuyện thánh, vì nó không thể phát xuất từ bất cứ một nguồn nào khác ngoài chính Chúa Giêsu. Vào một lúc nào đó, có lẽ chính Chúa Giêsu đã thuật lại cho các môn đệ về kinh nghiệm sâu thẳm đó của linh hồn Ngài.
2. Cũng vào dịp này hẳn Ngài đã ý thức được những quyền năng đặc biệt của Ngài. Những cám dỗ đó chỉ có thể xảy đến cho một người có đủ quyền năng làm những sự lạ lùng. Chúng ta không bị cám dỗ khiến đá thành bánh hoặc nhảy từ nóc Đền Thờ, vì lẽ rất đơn giản là chúng ta không thể nào thực hiện được những việc như vậy. Các cám dỗ đó chỉ có thể xảy đến cho ai có sẵn quyền năng độc nhất và phải quyết định cách thức sử dụng quyền năng đó.
Trước hết chúng ta thử hình dung khung cảnh đó, khung cảnh của sa mạc hoang vu. Phần đất có người ở của xứ Giuđê là vùng cao nguyên trung tâm cái xương sống cho miền Nam đất Paléttin. Từ đó ra Biển Chết có một vùng sa mạc ghê rợn, chiều dài 56 cây số và rộng 24 cây số, có tên là sa mạc Jehsimmon, nghĩa là “sự tàn phá”. Các núi đồi như những đống cát bụi, những đá vôi trông như phồng lên và tróc ra, những tảng đá lớn trơ trọi gồ ghề, mặt đất kêu rền dưới vó ngựa. Nắng ở đó nóng như một lò lửa mênh mông, và có một sườn núi dốc dựng đứng cao khoảng 400 mét, đổ xuống tận Biển Chết. Chính tại đó, nơi hoang tàn ghê gớm đó, Chúa Giêsu chịu cám dỗ.
Không nên nghĩ rằng ba đợt cám dỗ đó đã diễn ra theo trình tự và lớp lang như một tấn tuồng. Chúng ta phải nhớ rằng Chúa Giêsu tự ý lui vào nơi vắng vẻ đó và suốt bốn mươi ngày Ngài vật lộn với vấn đề làm thế nào để chinh phục nhân loại về với Thiên Chúa. Đó là một trận chiến lâu dài và là một cuộc chiến không ngưng nghỉ cho tới cây thập giá, và câu chuyện này chấm dứt với lời tuyên bố của ma quỷ “tạm” lìa bỏ Ngài.
1. Cám dỗ thứ nhất khiến đá thành bánh.
Vùng này không phải là một sa mạc cát, khắp đó đây rải rác những hòn đá vôi rất giống những ổ bánh mì nhỏ. Ma quỷ nói với Chúa Giêsu rằng: “Nếu ông muốn dân chúng theo ông thì ông hãy dùng quyền năng lạ lùng để ban cho họ những nhu cầu vật chất đi”. Ma quỷ xui Chúa Giêsu nên đút lót dân chúng để họ theo Ngài, Ngài trả lời bằng một câu trích ở Đệ nhị luật 8,3, Ngài nói: “Người ta không bao giờ tìm được sự sống trong của cải vật chất”. Nhiệm vụ của Kitô giáo không phải là tạo ra những tình trạng mới, mặc dầu uy tín và tiếng nói của Hội Thánh phải hỗ trợ cho mọi cố gắng cải thiện đời sống con người. Nhiệm vụ của Hội Thánh là kiến tạo con người mới. Và khi đã có con người mới hẳn sẽ phát sinh các tình trạng mới.
2. Trong chước cám dỗ thứ nhì, Chúa Giêsu thấy mình đứng trên một đỉnh núi cao, từ đó mắt Ngài có thể thấy được tất cả các nước văn minh.
Ma quỷ nói: “Hãy thờ lạy ta thì tất cả sẽ là của ngươi”. Đó là một chước cám dỗ để thoả hiệp, để hoà đồng. Ma quỷ nói: “Ta đã nắm được dân chúng trong tay ta rồi, ngươi chớ nên đặt tiêu chuẩn của ngươi quá cao. Hãy ký kết một thoả hiệp với ta, chỉ cần hoà đồng thích nghi một chút với điều ác thôi thì loài người sẽ theo ngươi” Chúa Giêsu trả lời: “Thiên Chúa là Thiên Chúa, phải là phải, trái là trái. Trong cuộc tranh chiến với tội ác không thể có thoả hiệp”. Một lần nữa Chúa Giêsu lại trích dẫn Đệ nhị luật 6,13.10,20. Một sự cám dỗ thường dễ vướng phải là việc tìm cách chinh phục lòng người bằng cách thoả hiệp với các tiêu chuẩn của đời này. Có người phát biểu rất đúng rằng khuynh hướng của thế gian là nhìn mọi sự trong màu sắc mơ hồ không rõ rệt, nhưng Kitô hữu phải nhìn mọi sự cách trắng ra trắng, đen ra đen. Carlyle nói: “Kitô hữu phải nóng cháy trong niềm tin vào sự vô cùng xinh đẹp của sự thánh khiết và vô cùng xấu xa của tội lội”.
3. Trong cơn cám dỗ thứ ba, Chúa Giêsu thấy mình đứng ở nóc Đền Thờ là chỗ cổng Salômôn và cổng vua giáp nhau.
Chỗ này cao 1.500 mét, dốc thẳng xuống thung lũng Kêdron bên dưới. Đây là chước cám dỗ muốn khích động dân chúng. Chúa Giêsu phán: “Không, ngươi không được quyền thử nghiệm quyền năng Thiên Chúa” (Đnl 6,16) Chúa Giêsu hiểu rằng nếu Ngài làm theo ma quỷ thì dân chúng sẽ phải sửng sốt thán phục Ngài, và chắc chắn ảnh hưởng đó không lâu bền được. Con đường phục vụ và chịu khó dẫn đến thập giá là con đường rất khó đi, nhưng sau thập giá sẽ có vinh quang của mão triều thiên.
Chúa trở nên giống như ta, là anh em Ngài, về mọi phương diện, để làm Thầy Thượng Tế nhân từ, trung thực trước mặt Thiên Chúa, chuộc tội cho mọi người. Vì Chúa từng chịu khổ khi đương đầu với các cơn cám dỗ, nên Ngài có thể giải cứu những người đang bị màng lưới cám dỗ vây bọc” (Dt 3,17-18). Suy nghĩ về điểm này, thánh Gioan Viannay phấn khởi kêu lên: “Chúng ta hạnh phúc thay! May mắn thay cho chúng ta có Thiên Chúa làm gương mẫu! Chúng ta nghèo khổ ư? Chúng ta có một Thiên Chúa sinh ra trong chuồng bò, nằm trong máng cỏ. Chúng ta bị khinh chê ư? Chúng ta có một Thiên Chúa đi trước chúng ta về điểm đó, Ngài đã từng bị đội mão gai, quấn áo đỏ để coi như một tên điên khùng. Chúng ta bị đối xử tồi tệ và đánh đập tàn nhẫn ư? Chúng ta có một Thiên Chúa, đứng trước ta, mình đầy vết thương, chết giữa những khổ hình mà ta không thể tưởng tượng ra. Chúng ta chịu bách hại sao? Này, sao mà dám phàn nàn khi ta có một Chúa chịu chết vì tay các lý hình. Cuối cùng, chúng ta đau khổ vì bị cám dỗ sao? Chúng ta có một Chúa Cứu Thế đáng yêu cũng bị ma quỷ cám dỗ, hai lần bị các thần dữ mang đi này, và trong tất cả các khổ đau, quyến rũ và cám dỗ mà chúng ta gặp phải, chúng ta luôn có Chúa đi trước chúng ta, bảo đảm cho chúng ta toàn thắng miễn là chúng ta muốn thật” (Curé d’Ars).
Như thế Chúa dạy không ai tránh khỏi cám dỗ, Chúa chỉ cách thắng vượt, khuyến khích ta tin cậy vào lòng thương xót, vì chính Ngài cũng bị cám dỗ như ta.
 
 

8. Chú giải mục vụ của Hugues Cousin

CHÚA GIÊSU CHỊU CÁM DỖ
Trong khi đem bản gia phả vào đây, Luca có nguy cơ phá vỡ mối liên kết nền tảng mà truyền thống đã thiết lập giữa phép rửa và cơn cám dỗ. Như thế ông nhắc lại cảnh này khi nói tới việc Chúa Giêsu đến từ bờ sông Giođan và ông bày tỏ mối dây liên kết giữa bản gia phả và sự hiển linh sau khi chịu phép rửa, chính trong tư cách là Con Thiên Chúa và đầy tràn Thần Khí thánh mà Chúa Giêsu sắp chịu thử thách. Người được dẫn vào sa mạc, địa điểm mơ hồ này nơi mà, theo Kinh Thánh, con người có thể có kinh nghiệm về sức mạnh của tà thần hay đi vào mối hiệp thông với Thiên Chúa hằng sống.
Luca mượn từ tài liệu “Nguồn các lời” một sắc thái Kitô giáo về Chúa Kitô được cấu trúc bằng ba lời trích dẫn mà ông chọn lựa cẩn thận từ sách Đệ nhị luật, để minh hoạ một kinh nghiệm căn bản của Chúa Giêsu. Trường hợp duy nhất trong văn chương Tin Mừng: ở đây Chúa Giêsu chỉ tuyên bố những trích dẫn từ Cựu Ước! Con Thiên Chúa phải trải qua ba thử thách mà dân Isaia đã chịu trong cuộc xuất hành và họ đã sa ngã; khi lợi dụng những bài học của Đệ nhị luật nhắc nhở ta canh chừng khỏi tái phạm những lầm lỗi tương tự. Chúa Giêsu chiến thắng địch thủ. Có vẻ như truyền thống trình bày ba giai đoạn theo trật tự như thấy trong Matthêu: bánh (chỉ tìm của cải vật chất), chóp đỉnh Đền Thờ (thử thách Chúa để đòi hỏi những dấu chỉ Mêsia gây sửng sốt), vương quốc trần gian (thoả hiệp với cái ác để bảo đảm quyền lực Mêsia). Luca sẽ đảo lộn cám dỗ thứ hai và thứ ba, để cám dỗ sau cùng –cám dỗ quan trọng nhất- là thử Thiên Chúa được diễn ra tại Giêrusalem.
Đối thủ của Thiên Chúa –được gọi là ma quỷ bốn lần trong bản văn này- đã ghi nhận được lời tuyên bố từ trời. Biết rằng Chúa Giêsu là Đấng Mêsia, nó thử ngăn trở vai trò của Người trong lịch sử cứu độ, khi bằng cách này hay cách khác mời mọc Ngài thực hiện một Công vụ Mêsia lừng lẫy. Độc giả đừng lầm lẫn về sứ mạng đích thực của Con Thiên Chúa, Chúa Giêsu hoàn tất lời Thiên Chúa: Ngài từ chỗ làm phép lạ để có lợi cho cá nhân Ngài (x. Đnl 6,13 được trích ở câu 8), cũng như dùng quyền năng Con Thiên Chúa của mình để tự bảo vệ… và quyến rũ người Do Thái bằng những phép lạ có tính cách lừa bịp (x. Đnl 6,16 được trích dẫn ở câu 12). Thấy tên quỷ trích Thánh Vịnh 91,11-12, độc giả cũng có thể nghĩ đến các đối thủ Do Thái chống lại niềm tin Kitô giáo, khi họ dựa vào một số bản văn Kinh Thánh nói về Đấng Mêsia hoàng vương để từ chối Đấng bị đóng đinh đã sống lại.
Như vậy cả ba lần, sự trung thành của Chúa Giêsu đối với Thiên Chúa và đối với chương trình cứu độ đã bị thử thách. Thử thách chót chính là … thử Chúa bắt Chúa phải ra tay. Đó là lỗi của Israel trong sa mạc, khi họ đòi một phép lạ bằng những lời này; “Chúa có ở với chúng ta hay không?” (Xh 17,7). Còn Chúa Giêsu, Ngài từ chối bắt Thiên Chúa phải can thiệp; Ngài không đòi phép lạ để cứu mạng mình. Ngài cũng sẽ không xin điều đó khi Ngài ở trên thập giá (23,35).
Bởi vì Luca đã thấy rõ cuộc khổ nạn. Trái với kết cuộc có hậu của Mt 4.11, khi Satan bỏ đi, Chúa Giêsu được các sứ thần phục vụ (x. Mc 1,13), tác giả Luca lại hướng chú ý về ma quỷ. Khi chống lại một cách vô ích quan niệm của Chúa Giêsu về sứ mệnh Mêsia của Ngài, quỷ đã thua một trận đánh, nhưng không phải là toàn bộ cuộc chiến và nói rời xa Ngài cho đến giờ H –giờ khổ nạn, mà dưới mắt của Luca nó là nhân vật chính và giấu mặt (22,3.31.53). Đối với Luca, những cơn cám dỗ đó là thử thách đầu tiên của một cuộc chiến sẽ kết thúc trên thập giá… và ở ngoài ngôi mộ Phục Sinh!
Sự chống đối giữa ma quỷ và Con Thiên Chúa là một thực tại: nó sẽ đưa Ngài đến cái chết. Khi thuật lại giáo huấn này về Đức Giêsu, Luca biết rằng ông diễn tả bằng hình ảnh. Chẳng hạn, phải chăng ông đã không loại bỏ ngọn núi rất cao từ đó người ta có thấy tất cả các nước trong thiên hạ –một cách diễn tả quen thuộc của Do Thái giáo, nhưng có thể người h luật pháp lại không hiểu nổi? Ông viết “trong giây lát” (c.5): bản âm không gian được thay thế bằng một ghi chú về thời gian!
Người ta sẽ hỏi đâu là nền tảng lịch sử của cảnh khai mạc này mà Luca đã có được? Bên cạnh một biến cố đúng thời gian, ta phải kể đến việc Chúa Giêsu sống ẩn dật trong một nơi không rõ ràng gọi là sa mạc, sau khi chịu phép rửa, với một thực tại kép: các cơn cám dỗ dĩ nhiên rồi, đặc biệt là cơn cám dỗ về một sự vụ Mêsia trần tục, những cám dỗ ấy là một chiều kích thường xuyên trong sứ vụ của Đức Giêsu; nhưng cũng cả việc Chúa Giêsu từ chối thuận theo cám dỗ nữa. Có những dấu vết chính xác về các cám dỗ ấy trong một tác phẩm của Luca (Lc 10,25; 11,6tt; 22,42…), và đã trở thành hiển nhiên: Chúa Giêsu là một Mêsia bị lột trần và đau khổ. Các môn đệ là chứng nhân và sứ mạng mà Ngài đã lãnh nhận. Các độc giả của Luca phải hiểu rằng không dễ dàng để hiểu Ngài.
Một lần nữa, thử thách theo đuổi suốt cuộc đời Chúa Giêsu không phải là tội. Như tất cả mọi người, Con Thiên Chúa đã kinh nghiệm câu châm ngôn này của Kinh Thánh: “Con ơi! Nếu con muốn phụng sự Chúa, con hãy chuẩn bị tâm hồn để chịu thử thách” (Ch 2,1).
 
 

9. Chú giải của Noel Quesson

Sau khi chịu phép rửa, Đức Giêsu được đầy Thánh Thần. Từ sông Giođan trở về và được Thánh Thần dẫn đi trong hoang địa.
Đức Giêsu vừa thay đổi cuộc sống. Đối với Người đó là một khúc quanh quyết định. Cách đây chỉ có vài ngày, Người vẫn còn là anh thợ mộc thôn làng, ở Nadarét. Người vừa nhận phép rửa ở sông Giođan "nhận chức" tác vụ làm ngôn sứ. Người được tràn đầy Thánh Thần? Trước khi bắt đầu tác vụ, Người cảm thấy cần phải một mình lui vào hoang địa. Người muốn cầu nguyện, suy nghĩ chọn những phương thế sẽ sử dụng để hoàn thành công trình của mình.
Không có một công trình lớn lao nào của con người, hay cuộc sống thiêng liêng thực sự nào, mà không cần thời gian suy nghĩ, cô tịch và im lặng nội tâm. Trong Mùa Chay đang bắt đầu, tôi có dành mỗi ngày vài phút, hay mỗi tuần vài khắc đồng hồ cho việc này? Để cầu nguyện suy nghĩ, và thấy rõ hơn không?
Tôi dùng tưởng tượng, ngắm nhìn Đức Giêsu đang rời làng mạc đông dân cư, đi sâu vào những vùng đất sỏi đá không người, không cây cỏ, không nước. Người bước đi bước tới. Lạy Chúa, còn con có dám đi theo Chúa không, để có một thời gian trong "hoang địa"?
Tại đây Chúa bị cám dỗ trong 40 ngày.
Theo Luca, cơn "cám dỗ" mà Đức Giêsu đương đầu, kéo dài trong suốt thời gian 40 ngày. Người ở nơi hoang địa. Thời gian cầu nguyện, cũng là thời gian "thử thách". Chữ này nhấn mạnh đến khía cạnh tích cực của cơn cám dỗ. Tự thử thách chính mình đó là xem mình có thể làm được những gì và "đưa ra bằng chứng về chính mình". Trắc nghiệm một cỗ máy, đó là thử xem giá trị thực sự của nó. Sự “thử thách", theo nghĩa này, là một điều rất tốt. Một mối tình được thử thách, đó là mối tình luôn bền vững và hiện giờ ta vẫn có thể chắc chắn về sự bền vững đó. Khi bảo chúng ta xin Thiên Chúa "đừng để chúng con xa trước cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ" Đức Giêsu không muốn nói là chúng ta sẽ không bị cám dỗ, nhưng ta phải chiến thắng cám dỗ, không bị nó đè bẹp, bị bại trận, thì sự dữ ngự trị. Nhờ khắc khổ, Đức Giêsu đã có kinh nghiệm về lợi ích của thử thách. Vì thử thách có thể làm tình yêu lớn lên: Những cám dỗ Người chịu, sẽ làm nổi bật giá trị lòng "trung tín" của Người đối với Chúa Cha.
Trong những ngày ấy, Người không ăn gì và khi hết thời gian đó thì Người thấy đói.
Tôi ngưng một lát để chiêm ngắm cảnh này: Đức Giêsu đang đau khổ vì đói! Bao tử co thắt - chóng mặt, nhức đầu.
Đa số các tôn giáo lớn, đều có việc thực hành "chay tịnh" tự nguyện như thế! Nền văn minh hiện đại của chúng ta, có lẽ là nền văn minh duy nhất trong lịch sử, khước từ kinh nghiệm tôn giáo phổ quát này. Ta thường nói, cần phải hưởng thụ. Tại sao phải nín nhịn? Khi một người ít buông thả trong phạm vi tình dục hay ăn uống, họ có nguy cơ mất đi một điều cốt yếu: "Sự tự chủ”. Lúc đó, con người trở thành một sinh vật rất mềm yếu, không ý chí, nô lệ cho những bản năng sơ đẳng nhất. Ở đây, Đức Giêsu đưa ra cho chúng ta hình ảnh một con người mạnh, có thể quên mình, “ăn chay" tự nguyện. Tôi có biết từ bỏ, hy sinh trong Mùa Chay này không?
1. Cơn cám dỗ thứ nhất.
Bấy giờ quỷ nói với Người: "Nếu ông là con Thiên Chúa thì truyền cho hòn đá này hoá bánh đi".
Cơn cám dỗ vì cái đói, đã là sự thử thách của Israel trong hoang địa. Nhưng cơn cám dỗ để thoả mãn cái đói của chúng ta, là sự thử thách của mọi người. Chúng ta biết rõ những khao khát thể xác của mình. Thiên Chúa đã đặt chúng trong ta, nhưng chúng ta có thể dễ "lệch lạc", trở thành độc tài yêu sách. Xã hội tiêu thụ quanh ta lại càng tăng thêm quyền lực cho chúng: "Hãy mua món ragu, mì sợi Ý. Thế giới phương Tây, nói chung, quá dư thừa thực phẩm. Những y sĩ thường cảnh giác điều đó.
Đức Giêsu đáp lại: "Đã có lời chép rằng: Người ta sống không chỉ nhờ cơn bánh".
Con người". Lạy Chúa Giêsu, con thích nghe lời này từ miệng Chúa. Con người, đó là nỗi đam mê của Chúa. Chúa đã đến trong nhân loại để phát huy giá trị của con người trong mọi chiều kích. Chúa lặp lại cho chúng con hôm nay: Hỡi con người, đừng sống chỉ nhờ cơm bánh! Đừng hạ thấp mình xuống mức độ sơ đẳng nhất. Người không có nhu cầu nào khác hơn là ăn, uống hút xách... sao?
Trong Mùa Chay này, chúng ta có biết phát triển những giá trị tâm linh của mình không? Chúng ta có biết cầu nguyện đón thận những thiếu sót khắc khổ, giúp mình thêm sinh khí không?
2. Cám dỗ thứ hai.
Quỷ đem Đức Giêsu lên cao và trong giây lát chỉ cho Người thấy tất cả các nước thiên hạ. Rồi nó nói với Người: "Tôi sẽ cho ông toàn quyền cai trị cùng với vinh hoa lợi lộc của các nước này, vì quyền hành ấy đã được giao cho tôi, và tôi muốn cho ai tuỳ ý. Vậy nếu ông bái lạy tôi, thì tất cả sẽ thuộc về ông".
Rõ ràng, trình thuật này không phải là một "phóng sự" của một nhà báo mô tả hay quay phim một biến cố. Đây là một trang thần học tóm kết và tổng hợp cách tượng trưng "tất cả những hình thức cám dỗ" (Lu ca sẽ nói rõ điều đó khi kết thúc trình thuật của ông) mà Đức Giêsu đã gặp “thực sự” suốt cuộc đời của Ngài. Chẳng hạn, rõ ràng là cơn cám dỗ thứ hai này, cám dỗ để được "quyền hành thế gian", đã không ngớt tấn công Đức Giêsu. Hằng ngày, Ngài đã phải đẩy lui cơn cám dỗ "cứu thế nhất thời" mà người đương thời đã muốn lôi kéo Người bước vào: Một Đấng cứu thế có tính chính trị, một ông "vua của thế gian" này theo kiểu vua Đavít cầm đầu, cùng với Nhóm quá khích để chống lại quyền hành và vinh quang, chống lại quân Rôma xâm lược (Ga 6,15). Ngay từ ngày đầu tiên này, tại hoang địa, cho tới hơi thở cuối cùng, Đức Giêsu đã khước từ vương quyền để làm người "nghèo hèn" "người tôi tớ" (Ga 13,1-20). Đức Giêsu đã có thể trở nên giàu có và quyền thế nhưng Người đã chấp nhận "yếu đuối" (1 Cr 1,27), khi chọn thập giá là “điều ô nhục đối với người Do Thái, là sự điên rồ đối với dân ngoại". Cơn cám dỗ về "quyền hành" cũng là cơn cám dỗ của chúng ta: Muốn thống trị áp đặt, và lợi dụng.
Đức Giêsu đáp lại: "Đã có lời chép rằng: Ngươi phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Người mà thôi". (Đnl 6,13)
Chống lại những cuộc tấn công của xatan, Đức Giêsu trả lời 3 lần bằng Kinh Thánh (Đnl 8,3-6,13-6,16), vì đó cũng chính là những cơn cám dỗ mà dân Chúa đã gặp nơi hoang địa trong "40 năm", và giờ đây Đức Giêsu cũng đang sống lại trong bản thân Người: Đó là cơn cám dỗ về mana (Xh 16), cám dỗ thờ ngẫu thần và con bò vàng (Xh 32-42), cám dỗ làm những dấu lạ (Xh 17). Cơn cám dỗ của Israel cũng là cơn cám dỗ của Đức Giêsu, của toàn thể nhân loại, của chúng ta. Nghi ngờ Thiên Chúa, vì người không tỏ hiện, để tin những gì khác".
Câu trả lời của Đức Giêsu là "không có gì hơn Thiên Chúa". Lạy Chúa Giêsu, theo chân Chúa, con không muốn thờ lạy và tin tưởng ở tiền bạc, lạc thú, quyền hành, "những ý thức hệ chính trị", những tiến bộ hay thời trang. Con chỉ phục bái “trước mặt Chúa". Cái tạm thời không phải là xấu. Nhưng biến nó trở nên "tuyệt đối", là một ảo tưởng bi thảm. Đức Giêsu là Đấng giải thoát chúng ta khỏi những “thần giả hiệu” đang gạt gẫm chúng ta.
3. Cơn cám dỗ thứ ba.
Quỷ đem Đức Giêsu đến Giêrusalem và đặt Người lên nóc đền thờ rồi nói với Người: “Nếu ông là con Thiên Chúa thì đứng dậy, mà gieo mình xuống đi! Vì có lời phép rằng: Thiên Chúa sẽ tay đỡ, tay nâng cho bạn khỏi vấp chân vào đá". (Tv 91,11-12)
Đó là cơn cám dỗ lớn và liên tục mà người ta đã đặt ra trước Đức Giêsu suốt đời sống công khai của Người: hãy làm phép lạ đi - Hãy cho chúng tôi một dấu chỉ trên trời. Hãy chứng minh rằng ông là Thiên Chúa. Hãy biểu lộ quyền hành của ông bằng phép lạ, chứng minh rằng ông là Đấng Cứu 'Thế chúng tôi đang mong đợi. Hãy bước xuống khỏi thập giá đi? (Lc 11,29-11,16-21,7; Ga 91,28-6,30-12,37; Mt 27,42-43). Còn chúng ta, chúng ta cũng luôn đòi hỏi những điều đó với Chúa sao?
Luca đã đặt cơn cám dỗ này, cám dỗ nơi đền thờ Giêrusalem xuống hàng thứ ba (còn đối với Matthêu, đó là cám dỗ thứ hai 4,5). Làm như thế, Luca mới nhấn mạnh đến sự tiệm tiến. Thực vậy, chính tại Giêrusalem, Đức Giêsu đã trải qua cơn thử thách lớn nhất của Người. Đó là cơn cám dỗ bi thiết, muốn cho Người khỏi phải chết: "Nếu có thể được, xin tha cho con khỏi uống chén này" (Lc 22,42). Đức Giêsu đã không được thiên thần "bảo vệ". Đó là cơn cám dỗ bi thảm nhất: trong đau khổ; mất niềm tin nơi Chúa Cha. Đức Giêsu đã không được bảo vệ, chân của Người đã vấp phải đá đường. Người đã không bao giờ dùng quyền năng thần linh của mình để tránh sức mạnh ghê gớm của "thân phận con người phải chết”. Người đã khước từ những phương tiện "ngoạn mục" để thi hành xứ vụ của mình, mà chỉ chọn những "phương tiện hạn hẹp". Chính nhờ thái độ Dâng lời tuyệt đối Chúa Cha, đến nỗi có cảm tưởng bị "Chúa Cha bỏ rơi" (Mt 27,48), mà người chứng tỏ mình là Con Một của Cha. Người sẽ được ' "'cứu khỏi chết" nhờ sự phục sinh của mình, nhưng chỉ sau khi đã sống trọn tình thương "cho đến tận cùng". Do đó, chúng ta chớ ngạc nhiên khi đến lượt mình cũng cảm thấy cơn cám dỗ bi thảm này: Đó là cơn cám dỗ nặng nhất, khi nghĩ rằng “Chúa bỏ rơi ta", cám dỗ của khuynh hướng vô thần "nếu có một Thiên Chúa tốt lành, thì tôi đâu có gặp thử thách như vậy! "
Chúa Giêsu đáp lại: Đã có lời rằng: ngươi chớ thử thách Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi.
Chúng ta cũng thường "thử thách Thiên Chúa". Đôi khi chúng ta buộc Chúa phải theo ý muốn của ta: "Nếu Chúa hiện hữu, nếu con thật là con của Chúa, Chúa phải cho con lành bệnh, hay thoát khỏi một cơn thử thách nào đó hay thành công ở một kỳ thi nào đó. Nếu Chúa không làm như thế, thì Chúa đâu có còn quan tâm tới con nữa, và Chúa đâu còn hiện hữu gì với con". Chúng ta biết rằng, vấn đề sự dữ trong thế gian là nguyên nhân của phần lớn những cuộc khủng hoảng tâm linh và dẫn đến nhiều trường hợp bỏ Đức tin.
Nhưng chúng ta cũng tin rằng, Đức Giêsu đang "ở cùng chúng ta". Đức Giêsu là người đầu tiền đã thắng cơn cám dỗ này, và dù có bị "đóng đinh trên cây gỗ”, vẫn một lòng trung thành với Chúa Cha.
Sau khi đã xoay hết cách để cám dỗ Người, quỷ bỏ đi, chờ đợi thời cơ.
Như vậy những cơn cám dỗ này, chỉ là khởi đầu. Đức Giêsu sẽ còn bị cám dỗ nữa. Và có thể nói, xatan đã hẹn tại Giêrusalem. Nơi đó sẽ diễn ra trận đụng độ thực sự khi Đức Giêsu bước vào cuộc thương khó (Lc 22,3).
 
 

10. Trong sa mạc - R. Gutzwiller

Do Thần trí Thiên Chúa thúc đẩy, Chúa Giêsu đi vào sa mạc. Sự sung mãn tinh thần cùng với việc đối thoại thân mật với Chúa Cha chiếm hữu Ngài mãnh liệt đến độ Ngài không còn tưởng nghĩ đến những nhu cầu vật chất nữa, dường như Ngài xuất thần, sống trong một thế giới khác.
Rồi bốn mươi ngày trong trạng thái xuất thần ấy qua đi, nhường chỗ cho những nhu cầu của con người, khiến Ngài cảm thấy cơn đói mãnh liệt. Tiếp theo ánh sáng từ trên cao là những u ám dưới đất; sau sự tràn đầy Thiên Chúa đến cơn cám dỗ của Satan vây bọc.
Càng là bậc thần bí chiêm niệm, càng là Đấng thánh thiện, thì lại càng hay bị Satan bủa vây, công hãm; những vị sống ở mức độ thánh thiện cao thì đồng thời cũng có nguy cơ liều mình sa xuống vực thẳm. Chúa Giêsu đã được nâng cao hơn ai hết: cho nên không ai bị Satan cám dỗ bằng Ngài.
Đây Ngài sắp bị kẻ địch mở ba mũi dùi tấn công:
Cám dỗ thứ nhất muốn nói đến cách sử dụng sai lầm quyền năng Thiên Chúa để phục vụ cho một lợi ích thế trần. Chúa Giêsu cũng có thể làm giảm cơn đói đang hoành hành nơi bản thân Ngài, điều đó có thể lắm chứ! Thế nhưng Ngài đã trả lời: ‘Người ta sống, không phải chỉ bằng cơm bánh’.
Tinh thần hay cơm bánh, linh hồn hay thân thể, đâu là điều quan trọng đối với Ngài? Từng thứ một luân phiên xuất hiện trước mặt Ngài… Phần đa số nhân loại đều ao ước cả hai, nhưng lại đặt trật tự sai lạc: tiên vàn là những gì liên quan đến thân xác, no nê, tiện nghi đầy đủ, rồi sau đó, hay may mắn lắm là song song với nó, mới đến những yếu tố tinh thần và thiêng liêng.
Hơn nữa, nhiều người còn bị cái chủ hướng chỉ coi trọng vật chất. Những người này hoàn toàn chối bỏ tinh thần và linh hồn. Duy chỉ còn tiện nghi vật chất là cứu cánh cho đời họ: ‘Cơm bánh và vui chơi’. Ngày nay xu hướng đó có một tầm ảnh hưởng đặc biệt, vì coi kinh tế như là động lực mang tính cách quyết định, những cái còn lại chỉ là phụ trội mà thôi.
Ngược lại, Chúa Giêsu xác quyết chỉ tinh thần mới có giá trị tuyệt đối. Bởi vì Thiên Chúa quan trọng hơn thế gian nhiều. Do đó, tiên vàn phải lo tìm kiếm nước của Người và mọi sự khác sẽ đến sau. Trời quan trọng hơn đất, nên kẻ nào chỉ loay hoay với những sự dưới đất là những người vụng về, không biết đâu là chính yếu và đâu là tuỳ phụ. Sự vĩnh cửu đáng giá hơn thời gian, nên kẻ nào liều mạng sống mình để chiếm được những cái chóng qua đời này, thì kể là đã đặt tất cả mọi sự trên một địa bàn sai lạc.
Lời Chúa Giêsu trưng dẫn lấy từ đoạn ở sách Đệ nhị luật, trong đó nói về thứ bánh Thiên Chúa ban cho dân khi còn ở trong sa mạc, nhưng đồng thời cũng nhấn mạnh là Lời Sáng tạo và Thần trí Thiên Chúa trọng hơn bội phần, đáng giá hơn thứ bánh do phép lạ Thiên Chúa làm và càng hơn thứ bánh ta dùng thường ngày gấp ngàn vạn lần.
Chúa Giêsu không chỉ khinh rẻ thân xác và những nhu cầu thể xác. Chúng ta sẽ thấy Ngài chữa lành bệnh tật, làm phép lạ hoá bánh ra nhiều, phục sinh kẻ chết. Xem đó thì biết Ngài không phải là anh trí thức một chiều, chỉ chu chu chăm chắm vào những điều thiêng liêng sáng láng, Ngài cũng chẳng phải là kẻ ngông cuồng không nhận biết Thiên Chúa. Nhưng Ngài muốn là tinh thần và Lời của Thiên Chúa phải được đặt vào đúng chỗ của nó, bởi vì thân thể chỉ có được ý nghĩa đúng đắn và những nhu cầu vật chất cũng chỉ thoả mãn một cách chính đáng khi tất cả đều diễn tiến theo một trật tự hợp với Thánh ý Thiên Chúa, hợp với luật của Người.
Do Thần trí Thiên Chúa thúc đẩy, Chúa Giêsu đi vào sa mạc. Sự sung mãn tinh thần cùng với việc đối thoại thân mật với Chúa Cha chiếm hữu Ngài mãnh liệt đến độ Ngài không còn tưởng nghĩ đến những nhu cầu vật chất nữa, dường như Ngài xuất thần, sống trong một thế giới khác.
Rồi bốn mươi ngày trong trạng thái xuất thần ấy qua đi, nhường chỗ cho những nhu cầu của con người, khiến Ngài cảm thấy cơn đói mãnh liệt. Tiếp theo ánh sáng từ trên cao là những u ám dưới đất; sau sự tràn đầy Thiên Chúa đến cơn cám dỗ của Satan vây bọc.
Càng là bậc thần bí chiêm niệm, càng là Đấng thánh thiện, thì lại càng hay bị Satan bủa vây, công hãm; những vị sống ở mức độ thánh thiện cao thì đồng thời cũng có nguy cơ liều mình sa xuống vực thẳm. Chúa Giêsu đã được nâng cao hơn ai hết: cho nên không ai bị Satan cám dỗ bằng Ngài.
Đây Ngài sắp bị kẻ địch mở ba mũi dùi tấn công:
Cám dỗ thứ nhất muốn nói đến cách sử dụng sai lầm quyền năng Thiên Chúa để phục vụ cho một lợi ích thế trần. Chúa Giêsu cũng có thể làm giảm cơn đói đang hoành hành nơi bản thân Ngài, điều đó có thể lắm chứ! Thế nhưng Ngài đã trả lời: ‘Người ta sống, không phải chỉ bằng cơm bánh’.
Tinh thần hay cơm bánh, linh hồn hay thân thể, đâu là điều quan trọng đối với Ngài? Từng thứ một luân phiên xuất hiện trước mặt Ngài… Phần đa số nhân loại đều ao ước cả hai, nhưng lại đặt trật tự sai lạc: tiên vàn là những gì liên quan đến thân xác, no nê, tiện nghi đầy đủ, rồi sau đó, hay may mắn lắm là song song với nó, mới đến những yếu tố tinh thần và thiêng liêng.
Hơn nữa, nhiều người còn bị cái chủ hướng chỉ coi trọng vật chất. Những người này hoàn toàn chối bỏ tinh thần và linh hồn. Duy chỉ còn tiện nghi vật chất là cứu cánh cho đời họ: ‘Cơm bánh và vui chơi’. Ngày nay xu hướng đó có một tầm ảnh hưởng đặc biệt, vì coi kinh tế như là động lực mang tính cách quyết định, những cái còn lại chỉ là phụ trội mà thôi.
Ngược lại, Chúa Giêsu xác quyết chỉ tinh thần mới có giá trị tuyệt đối. Bởi vì Thiên Chúa quan trọng hơn thế gian nhiều. Do đó, tiên vàn phải lo tìm kiếm nước của Người và mọi sự khác sẽ đến sau. Trời quan trọng hơn đất, nên kẻ nào chỉ hoay hoay với những sự dưới đất là những người vụng về, không biết đâu là chính yếu và đâu là tuỳ phụ. Sự vĩnh cửu đáng giá hơn thời gian, nên kẻ nào liều mạng sống mình để chiếm được những cái chóng qua đời này, thì kể là đã đặt tất cả mọi sự trên một địa bàn sai lạc.
Lời Chúa Giêsu trưng dẫn lấy từ đoạn ở sách Đệ nhị luật, trong đó nói về thứ bánh Thiên Chúa ban cho dân khi còn ở trong sa mạc, nhưng đồng thời cũng nhấn mạnh là Lời Sáng tạo và Thần trí Thiên Chúa trọng hơn bội phần, đáng giá hơn thứ bánh do phép lạ Thiên Chúa làm và càng hơn thứ bánh ta dùng thường ngày gấp ngàn vạn lần.
Chúa Giêsu không chỉ khinh rẻ thân xác và những nhu cầu thể xác. Chúng ta sẽ thấy Ngài chữa lành bệnh tật, làm phép lạ hoá bánh ra nhiều, phục sinh kẻ chết. Xem đó thì biết Ngài không phải là anh trí thức một chiều, chỉ chu chu chăm chắm vào những điều thiêng liêng sáng láng, Ngài cũng chẳng phải là kẻ ngông cuồng không nhận biết Thiên Chúa. Nhưng Ngài muốn là tinh thần và Lời của Thiên Chúa phải được đặt vào đúng chỗ của nó, bởi vì thân thể chỉ có được ý nghĩa đúng đắn và những nhu cầu vật chất cũng chỉ thoả mãn một cách chính đáng khi tất cả đều diễn tiến theo một trật tự hợp với Thánh ý Thiên Chúa, hợp với luật của Người.
Chúa Giêsu cũng sẽ sử dụng quyền năng lạ lùng của Ngài theo lời, theo ý của Thiên Chúa chứ không theo sở thích của lòng mình, lại càng không theo ý muốn của mình, hay sự thúc đẩy của thân xác. Sứ vụ của Ngài là loan báo Nước Thiên Chúa. Xu hướng coi trọng vật chất vẫn còn xung khắc với Kitô giáo.
Cám dỗ thứ hai liên quan đến sự ham hố quyền hành. Satan chỉ cho Chúa thấy ‘hết các nước thiên hạ’ và nói thêm: ‘Tôi hiến cho Ngài uy quyền đó hết thảy và vinh quang của các nước ấy, vì nó đã được phú thác cho tôi, và tôi muốn hiến cho ai tuỳ ý tôi’. Lời gì mà lạ lùng thế! Tuy nhiên chính Chúa Giêsu đã gọi Satan là ‘Thủ lĩnh thế gian này’. Quyền lực tự nó đâu phải là cái gì xấu xa, nhưng có một chú quỉ quyền thế chỉ lo quyến rũ những kẻ ham danh và mê thống trị. Kẻ đó không còn lo tìm Đấng toàn năng, cũng chẳng tìm Thánh ý Thiên Chúa Tối Cao, Đấng mọi quyền hành đều phải phụng sự Ngài.
Trái lại, họ coi quyền hành của họ là sự thiện tuyệt đối và sử dụng tuỳ theo sở thích của họ. Kiêu ngạo, dương dương tự đắc quá lố như vậy tất sẽ đi đến chỗ lầm đường lạc lối. Sách Khải huyền gọi quyền thế là ‘con mãnh thú vực sâu…’. Nói đúng ra, đối với những người có địa vị, cám dỗ này còn nguy hiểm hơn cám dỗ coi vật chất là số một, dù cám dỗ này cũng đã thật thô bỉ. Cám dỗ về ham quyền được nguỵ trang bằng những dáng vẻ đạo đức bề ngoài, vì nó khuyến khích việc mở rộng nước Chúa nhờ những phương tiện bên ngoài của chính trị, võ khí, tổ chức này tổ chức nọ, tiền bạc… Thậm chí có những việc khởi đầu hoàn toàn với ý hướng ngay thẳng, thế rồi dần dà cũng đi đến chỗ coi trọng quyền thế; tham quyền thì cố vị, và rốt cuộc sa vào mưu mô của ma quỷ.
Vậy nếu ông bái xuống lạy tôi, thì mọi sự ấy sẽ là của ông’. khi bái lạy quyền thế thì người ta cũng thờ lạy Satan. Khi ham quyền và những lợi lộc do đó mà ra, thì người ta đã đang tâm hiến mình làm nô lệ cho quyền thế.
Đó là lý do tại sao Chúa Giêsu đã trả lời: ‘Ngươi phải bái lạy Chúa, Thiên Chúa của ngươi, và chỉ thờ phượng một mình Người’ Đấng Tối Cao là Đấng độc nhất mà mọi sự phải quy phục. Đấng toàn năng là Vị Duy Nhất sở hữu và ban phát quyền năng chính đáng. Mọi thứ quyền hành không phụng sự Thiên Chúa là một sự lạm dụng và phục vụ cho Satan, cho dầu nó có vẻ huy hoàng rực rỡ mấy chăng nữa. Ham quyền quá đáng trao nộp chúng ta vào tay ma quỷ. Nhưng Chúa Giêsu đã đến để thiết lập Nước Thiên Chúa thì đồng thời Ngài cũng phá tan vương quốc của kẻ thù.
Trong cái chết của Chúa Giêsu, quyền lực âm phủ mở tiệc ăn mừng; nhưng trên thực tế, nó đã bị bẻ gãy và tỏ ra mình yếu kém ngay tại đó. Trót cuộc sống Chúa Giêsu là một sự phục vụ Thiên Chúa, chứ không phải phụng sự Satan. ‘Ngươi phải thờ phượng một mình Thiên Chúa’. Kẻ nào thờ lạy bất cứ cái gì khác phải kể là đã phản bội Thiên Chúa.
Cám dỗ thứ ba nói đến việc lạm dụng phép lạ với mục đích thoả mãn tính hiếu kỳ.
Satan đưa Chúa Giêsu, trong Thần trí, lên chóp đỉnh đền thờ. ‘Nếu Ngài là Con Thiên Chúa, thì hãy gieo mình xuống’. Chú quỷ còn trưng dẫn Kinh Thánh nữa: ‘Vì Người đã truyền cho các thiên thần gìn giữ ông; và các vị đó sẽ giơ tay nâng đỡ ông khỏi vấp chân vào đá’.
Chúa Giêsu đã khởi đầu cuộc sống công khai của mình trong đơn sơ và ẩn mặt, vì Ngài đã xen lẫn vào đám dân chúng, và những người tội lỗi bên bờ sông Giođan. Giờ đây, cám dỗ có ý muốn làm cho mọi chuyện xảy ra ngược lại: Ngài sẽ làm một phép lạ từ trời trước mặt quần chúng, tỏ ra mình đặc biệt phi thường. Dân chúng đang khát khao được nhìn, được thấy. Họ muốn thấy Ngài xuất hiện trên chín tầng mây chứ không phải như một người trong họ, như bao nhiêu người khác.
Trong lãnh vực tôn giáo, phép lạ vẫn luôn mang theo một sự lôi kéo mới mẻ. Người ta từ chối không muốn phụng sự Thiên Chúa trong những khó khăn của cuộc sống thường nhật và không muốn theo Thánh ý Người trong cuộc sống bình thường. Họ muốn có những chuyện lạ lùng bên ngoài, bên trong cũng được. Nhất là cảm nghiệm trong việc cầu nguyện thần bí.
Những chuyện Đức Mẹ hiện ra. Vị này vị nọ được in năm dấu Thánh, có sức lôi kéo họ đi hành hương bất chấp xa xôi vất vả và họ coi là có giá trị hơn là chấp nhận Lời Chúa và Thánh ý Người bằng niềm tin cùng với tấm lòng đơn sơ chân thành. Thánh ý mà Chúa tỏ bày qua những hy sinh trong chức nghiệp bổn phận trong gia đình, những thánh giá hằng ngày mà ít ai để ý, cũng chẳng ai tỏ vẻ khâm phục.
Chúa Giêsu không coi rẻ phép lạ đâu. Chính Ngài sẽ thực hiện những phép lạ, nhưng không phải để thoả mãn những thèm khát của đại chúng hoặc để cho tôn giáo có tính chất ngoại lệ đặc biệt, một chỉ để vâng phục Thánh ý Thiên Chúa, Cha của Ngài trên trời, và do đó chứng mình rằng mình nhận lãnh sứ vụ từ nơi Chúa Cha. Tất cả những gì ngoài mục đích đó đều được coi là thử thách Cha Ngài, là có ý bắt Thiên Chúa làm những phép lạ không cần thiết, cũng không theo lệnh, chẳng theo ý của Người.
Vì đó, Chúa Giêsu trả lời: ‘Ngươi đừng thử thách Chúa là Thiên Chúa của ngươi’.
Đó là cám dỗ chống lại Thiên Chúa cao trọng, chống lại Thần trí, ý muốn và quyền năng của Người. Chúa Giêsu lướt thắng Satan nhờ Thiên Chúa và phá tan mưu chước bằng cách chạy đến Thiên Chúa. Cũng thế, con người không thể đứng vững trước những cơn thử thách nhờ vào sức riêng của mình được. Đứng giữa Thiên Chúa và ma quỷ, con người chỉ có thể vượt thắng được ma quỷ nhờ sự trợ lực của Thiên Chúa. Không thể có chuyện trung lập hay lẩn tránh. Người ta chỉ có thể xa lánh Satan khi quay hướng về Thiên Chúa, làm như vậy thì người ta cũng xa tránh được mưu chước cám dỗ của Satan.
Bây giờ đây, thời gian chuẩn bị cho cuộc đời công khai của Chúa Giêsu đã chấm dứt. Được Thiên Chúa uỷ phái, nhưng Ngài lại ở giữa loài người. Sinh bởi Thiên Chúa, tuy nhiên cũng là con loài người, Ngài được đầy tràn Thần khí Thiên Chúa và sẽ chiến đấu với Thần trí Satan. Thánh ý Thiên Chúa cũng là lề luật của Ngài, nước Thiên Chúa là bổn phận của Ngài, tất cả những gì thuộc về ma quỷ là thù địch của Ngài. Ngài sẽ xây dựng nước Thiên Chúa và sẽ huỷ diệt vương quốc của Satan.
Sau phần mở đầu uy hùng và bi tráng này, thái độ mâu thuẫn giữa sức lực trên cao và quyền năng dưới thế sắp bắt đầu công cuộc hành động của Ngài trên dân chúng.
 
 

11. Chú giải của Fiches Dominicales

TUYÊN XƯNG ĐỨC TIN BÀNG HÀNH ĐỘNG
VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI
1. Liên hệ chặt chẽ với phép rửa của Đức Giêsu
Sau trình thuật về phép rửa, lúc tiếng nói từ trời tuyên bố: "Con là Con Cha. Hôm nay Cha đã sinh ra Con", Luca đưa vào bản gia phả của Người, nhắc lại tổ tiên nhân loại của Đức Giêsu cho tới "Adam, con Thiên Chúa". Cũng trong mối liên lạc chặt chẽ với quang cảnh phép rửa là với bản gia phả mà thánh sử định vị cho giai đoạn cám dỗ: Đức Giêsu "đầy Thánh Thần" rời bỏ "bờ sông, Giođan"; người "được Thánh Thần hướng dẫn vào hoang địa" - Đây là nơi mơ hồ, nơi mà theo Kinh Thánh, con người bị thần dữ thử thách hoặc đi vào kết hiệp với Thiên Chúa hằng sống "trong 40 ngày"
Người sẽ bị "ma quỉ thử thách" với tư cách là Con Thiên Chúa. Ma quỉ hỏi với Người: "Nếu ông là Con Thiên Chúa hãy truyền cho hòn đá này trở nên bánh. Nếu ông là con Thiên chúa, hãy nhảy xuống đất".
2. Thử thách đầu tiên trong cuộc chiến toàn thắng.
Cũng như bản văn của Mátthêu - tuy thứ tự có khác – bản văn của Luca kết cấu chung quanh 3 cuộc cám dỗ. Ba cuộc cám dỗ, chính Tin Mừng xác định rõ ràng ở phần kết, đã “múc cạn” mọi hình thức cám dỗ": những cơn cám dỗ mà Đức Giêsu sẽ phải đương đầu suốt dọc tác vụ của Người cho đến khi chết, những cơn cám dỗ mà các môn đệ và mọi thành phần trong cộng đoàn của các ngài sẽ gặp. Ba cơn cám dỗ, cũng như ba lời trích dẫn đã ghi chú cặn kẽ, đã được khéo léo lựa chọn từ sách Thứ Luật (trích trong bài đọc 1 và thánh Phaolô trích dẫn trong bài đọc 2), chính là những cơn cám dỗ mà dân Israel đã phải đương đầu, trong suốt 40 năm sa mạc. Có điều họ đã sa ngã. Nay đến phiên Đức Giêsu phải đương đầu với những cơn cám dỗ ấy, suốt 40 ngày trong sa mạc: Ba lần, địch thù thử thách lòng trung tín của người Con đối với Thiên Chúa và với chương trình cứu độ của Người; trong cả 3 lần, Đức Giêsu đã chiến thắng.
Hugues Cousin nhận xét: "Đây là trường hợp độc nhất trong văn chương Tin Mừng. Đức Giêsu chỉ nói những lời tích từ Cựu ước, Con Thiên Chúa phải trải qua 3 cuộc thử thách mà xưa kia dân Israel trong chuyến Xuất Hành đã đương đầu và đã sa ngã đã sa ngã; rút được kinh nghiệm từ những bài học trong sạch thứ Luật, cảnh giác để khỏi tái diễn những lỗi lầm tương tự. Đức Giêsu đã chiến thắng đối thủ" ("Tin Mừng theo thánh Luca", Centurion, trg 62).
+ Cơn cám dỗ đầu tiên, giống như Mátthêu, là cơn cám dỗ về Sở Hữu, cơn cám dỗ chỉ tìm lợi lộc vật chất, cơn cám dỗ của một chủ nghĩa Mêsia thiển cận: "Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy biến hòn đá này thành bánh đi".
Lần đầu tiên trích dẫn sách Thứ Luật 8,3 - đoạn nói về manna - Đức Giêsu trả lời ngay tức khắc: "Người ta sống không nguyên bởi bánh". Người từ chối làm phép lạ vì lợi lộc riêng tư. Là "Con" thật sự, Người nhận tất cả từ Thiên Chúa, Cha của Người và chỉ từ Chúa Cha mà thôi; nên Người phó thác tất cả cho Thiên Chúa, Cha của Người và chỉ phó thác cho Chúa Cha mà thôi. Roland chú giải: "Con là kẻ nhận được sự hiện hữu, sự sống không từ chính mình, nhưng từ một kẻ khác, từ Cha của mình. Con là kẻ hiểu biết trong niềm vui và niềm biết ơn rằng mình sống nhờ Cha. Người không phải là kẻ ra lệnh để có bánh; chính Chúa, Thiên Chúa của Người sẽ ban lương thực cùng với Lề Luật. Con không ra lệnh, Người khẩn cầu: "Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày" (Tin Mừng theo thánh Luca. Phân tích tu từ", Cerf, quyển 3, trg 50).
+ Cơn cám dỗ thứ hai, khác với trình thuật của Mátthêu, là cơn cám dỗ về QUYỀN LỰC; cơn cám dỗ về một chủ nghĩa Mêsia theo tham vọng loài người, dù phải trả giá bằng sự thoả hiệp. "Nếu ông thờ lạy tôi, quỉ đoán chắc, ông sẽ có tất cả" ("Mọi quyền lực và vinh quang của các vương quốc ấy”).
Lần thứ hai trích dẫn sách Thứ luật 6, 1 3 - đoạn nói về con bò vàng - Đức Giêsu trả lời ngay: "Đã chép rằng: Người chỉ được thờ lạy Chúa, Thiên Chúa của ngươi mà thôi". Người từ chối không tôn kính thủ lãnh trần gian để hành xử vương quyền phổ quát. Là Con thật sự, Người sẽ nắm giữ vương quyền từ Thiên Chúa, Cha của Người, và chỉ từ Cha người mà thôi, theo con đường Cha đã chọn: con đường khiêm nhường, nghèo hèn, thánh giá. R. Meynet chú giải: "Đức Giêsu sẽ nhận được các vương quốc trần gian, Người sẽ là Đức Kitô, Vua, vì Người đã từ chối vương quyền xấu xa của ma quỉ, vì Người đã tự nguyện trở nên tôi tớ của Thiên Chúa và của nhân loại" (Sđd).
+ Cơn cám dỗ thứ ba Luca đã cho diễn ra ở Giêrusalem, báo trước thử thách quyết liệt sau này, đó là cơn cám dỗ MA THUẬT, cơn cám dỗ thử thách Thiên Chúa, đi tìm những dấu chỉ kinh thiên động địa của Đấng Mêsia. Ma quỉ dùng Tv 90, cố cám dỗ một lần cuối: "Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy gieo mình xuống; Có lời chép rằng: người đã ra lính cho các thiên thần gìn giữ ông".
Lần cuối cùng trích dẫn sách Thứ Luật 6,16 - đoạn nói về Massa, nơi dân Do Thái đã buộc Chúa phải cho họ nước uống - Đức Giêsu đáp tức khắc: "Đã chép rằng: "Ngươi đừng thử thách Chúa là Thiên Chúa của ngươi". Người từ chối sử dụng quyền làm Con Thiên Chúa để bảo vệ mình; và mê hoặc người Do Thái bằng những điều kỳ diệu. Người từ chối buộc Thiên Chúa phải can thiệp. Người không đòi phép lạ để cứu mạng sống mình; người chẳng đòi hỏi cả khi Người bị treo trên thánh giá. R. Meynet nói tiếp: "Người tin chắc rằng: Thiên Chúa sẽ cứu Người, Người không có quyền kiểm chứng xem Chúa Cha có trung tín không; Thiên Chúa chẳng cần phải chứng tỏ cho mọi người thấy Thiên Chúa có cứu Người" (sđd).
3. Sẽ hoàn tất trên thánh giá
Nếu, như nói ở trên, Luca hoán đổi vị trí 2 cơn cám dỗ sau, đó là vì muốn thiết lập một thứ tự tiệm tiến cho tới cơn cám dỗ thứ ba: Tại Giêrusalem, nơi có cuộc đụng đầu quyết liệt và nơi hoàn thành quyển sách đầu tiên của ngài. Đây là khúc nhạc mở đầu loan báo cuộc thử thách lớn lao trong khổ nạn.
Hôm nay, đối thủ đành chịu khuất phục, nó rút lui "chờ giờ phút đã định". Lúc ấy, nó sẽ xuất hiện, ra những đòn cuối cùng tấn công Đấng Chịu Đóng đinh qua miệng các sĩ quan, quân lính và cả người trộm dữ nữa.
Nếu ông là Đức Kitô, hãy cứu mình và cứu chúng tôi với!, một kẻ cùng chịu đóng đinh với Người lên tiếng, thách thức.
Trong lúc thất bại ê chề trước mặt mọi người, Đức Giêsu: vẫn vững vàng trong thử thách; vẫn gần bó với thánh giá giữa các người bạn cùng đau khổ. Người phó thác trọn vẹn cho Chúa Cha cội nguồn sứ mạng của Người. Và người trộm lành đã sinh ra trong ánh sáng nên đã không nguyền rủa.
Quân lính chế nhạo: "Nếu ông là Vua dân Do Thái, hãy tự cứu mình đi".
Trong lúc công cuộc của Người tưởng như vĩnh viễn lụi tàn, Đức Giêsu vẫn kiên vững trong thử thách, vẫn lặng lẽ. Đấng Mêsia - Vua chịu đóng đinh và bất lực cầu khẩn một mình với Chúa Cha "Lạy Cha, con dâng phó hồn con trong tay Cha" (Tv 30.6). Thái độ của Người trước cái chết đã khiến viên sĩ quan Rôma phải thốt lên những lời đầy hứa hẹn: "Quả thật ông này là người công chính".
Thủ lãnh trong dân châm chọc: "ông ta đã cứu được người khác: hãy tự cứu mình đi, nếu ông ta là Đấng Mêsia của Thiên Chúa, "Đấng được tuyển chọn".
Trong khi tất cả mọi người quấy rối, Đức Giêsu vẫn kiên vững trong thử thách, tha thứ cho các đao phủ. Và sự đau khổ cũng như cái chết của Người, được đảm nhận trong tình yêu, đã sinh hoa kết quả: Có người đã tách ra khỏi các thành viên của hội đồng, đó là Giuse người Arimathia.
Có người sẽ hỏi, đâu là gốc rễ lịch sử của đoạn văn mà Mátthêu và Luca thuật lại. H. Cousin trả lời: "Bên cạnh một biến cố xác thực, cuộc tĩnh tâm của Đức Giêsu trong hoang địa sau khi chịu phép rửa, ta phải xét đến 2 thực tại: những cơn cám dỗ chắc chắn phải có, đặc biệt là cơn cám dỗ về chủ nghĩa Mêsia trần tục, vì chúng vẫn tồn tại trong suốt sứ vụ của Đức Giêsu; và Người vẫn kiên trì chống trả không bao giờ chịu lùi bước nhượng bộ. Những dấu vết hiển nhiên tồn tại trong suốt Tin Mừng Luca (10, 25; 11, 6 và kế tiếp; 22, 42...) càng cho ta thấy rõ rằng: Đức Giêsu là một Đấng Mêsia nghèo nàn và đau khổ. Các môn đệ làm chứng Người luôn trung tín với Thiên Chúa, với sứ mệnh mà Người đã lãnh nhận. Luca đã làm cho độc giả hiểu ràng Đức Giêsu đã phải chọn lựa một hình thức thi hành sứ mệnh, một cách thế hiện hữu và không phải dễ dàng để đi đến cùng chọn lựa ấy" (Sđd, trg 63-64).
BÀI ĐỌC THÊM
1. Cơn cám dỗ của Đức Giêsu trong hoang địa: một pha gây cấn
(H. Denis trong "100 từ ngữ diễn tả đức tin", DDA, trg 111- 112).
Mùa Chay khai mạc - vào Chúa nhật đầu tiên - đưa ta đến trước một cảnh lạ lùng, thậm chí đáng lo ngại: cơn cám dỗ Đức Giêsu trong hoang địa.
Ta muốn nói như Phêrô khi nghe loan báo cuộc khổ nạn: "Không! Thầy không phải chịu như thế. Đôi khi ta cố xoay xở, nhưng đó không phải là linh đạo tối ưu khi giải thích sự vật" như sau: Thực ra, Đức Giêsu không thực sự bị cám dỗ, Người đã chấp nhận bị cám dỗ "vì ta", để dạy ta biết phải chống lại các cơn cám dỗ như thế nào. Nhưng giá phải trả cho lối giải thích này rất nặng. Làm như Đức Giêsu "giả vờ" không bằng. Rồi sẽ suy ra người giả vở làm người, giả vờ học hành, giả vờ đói giả vờ đau khổ, giả và chết.
Nếu ta muốn chấp nhận Đức Kitô có nhân tính thực sự, ta phải tìm hiểu xem bằng cách nào Đức Giêsu đã thực sự bị cám dỗ ra khỏi con đường thẳng tắp của sứ mệnh của Người, và Người đã chống trả thế nào.
Cơn cám dỗ về bánh để nuôi dân no đủ vốn là cơn cám dỗ của mọi lãnh tụ, có tôn giáo hay không. Đức Giêsu đã chống cự. Nếu có lần Người chấp nhận hoá bánh ra nhiều, đó cũng chỉ nhằm giúp người ta có đủ sức nghe lời phát xuất từ miệng Thiên Chúa và để họ tìm được một thứ lương thực khác: "Này là Mình Ta, sẽ bị nộp vì các con". Cơn cám dỗ về phép lạ, về những điều kỳ diệu cũng đã bị đẩy lui. Phải chăng đó đã là dấu chỉ của một Đức Giêsu chỉ chữa bệnh vì Nước Trời? "Phúc cho ai không thấy mà tin".
Cơn cám dỗ về quyền lực trên trần gian cũng tinh vi không kém. nhưng Đức Giêsu biết rằng Satan ẩn nấp trong mọi thứ vinh quang không qui về Chúa Cha. Vinh quang của Đức Kitô là vinh quang của sự hiến mình. Điều ấy sẽ được thực hiện trên thánh giá, trong khó nghèo tột độ, khi mọi sự hoàn tất.
2. Những cạm bẫy tương tự trải dài suốt lộ trình của ta
(F. Deleclos, trong ‘hãy cầm lấy Lời Chúa mà ăn’ Centurion -Duculot, trg 193-194)
Thật tốt nếu ta vui vẻ để "Chúa Thánh Thần dẫn vào hoang địa". Đó là cơ hội sống động cho ta khám phá hoặc tái khám phá ra những cạm bẫy thường xuyên giăng dưới bước chân người Do Thái, những cạm bẫy mà Đức Kitô đã gặp, cũng là những cạm bẫy trải dài suốt hành trình và suốt lịch sử đời ta. Ta hãy học cách vạch trần những cơn cám dỗ để khỏi bị lệch hướng xa đường giao ước, xa đường sứ mạng của ta.
Những cạm bẫy của Thần Dữ toả ra hào quang duyên dáng và lôi cuốn, mời mọc tinh vi và đáng sợ, cộng với trí thông minh và sự kiên nhẫn của "Địch thủ của triều đại Thiên Chúa".
Đó là cơn cám dỗ dùng Lời Chúa phục vụ mọi ham thích của ta về sở hữu, về hiểu biết, về quyền lực, là những nguồn không bao giờ cạn “của mọi loài hình cám dỗ" luôn quấy phá các tín hữu và các Giáo Hội.
Đó là những ham hố quá đáng đi tìm điều lạ lùng, săn đuổi các cuộc hiện ra, các phép lạ, làm lệch hướng những đòi hỏi khẩn cấp của Tin Mừng.
Đó là cầu nguyện sốt sắng bên ngoài để phiền nhiễu Thiên Chúa, mong rút tỉa được đặc ân tránh khỏi thử thách, khổ đau.
Cạm bẫy còn là những an thân giả tạo, những bảo đảm hão huyền mà ta mải mê tìm kiếm trong một mớ chồng chất những lễ nghi trống rỗng vô nghĩa vô hồn.
Cơn cám dỗ tinh vi cuốn ta vào đủ mọi thứ hy sinh đến từ tinh thần thống trị, lòng ham thích sức mạnh và say mê quyền lực Thiên đường các ngẫu tượng.
Làm cách nào trả lời 3 cuộc cám dỗ tiêu biểu nếu không phải là 3 câu trả lời bằng ăn chay, cầu nguyện và chia sẻ. Gặp gỡ Chúa để Lời chân lý và sự sống đổ đầy vào trái tim ta và vọt ra từ môi miệng ta. Khước từ những phồn vinh muốn chôn vùi ta và khám phá thấy trong sự tiết độ những giá trị vững bền. Tình liên đới làm phát sinh và nuôi dưỡng lòng quảng đại huynh đệ đối với biết bao kẻ đói khát sự công chính và bình an, những người bị loại trừ khỏi tình yêu và lòng kính trọng, những người bị áp bức ở mọi nơi, đám đông mênh mông những người bị đóng đinh nơi đó Đấng giải phóng, Đấng Phục sinh hằng sống đang náu ẩn trong vô danh.
 
 

12. Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt

CÁM DỖ TRONG SA MẠC
1. Phần dẫn nhập của trình thuật này (cc.1-2) có vẻ chi tiết hơn Mt. Lc thêm hai chỉ dẫn quan trọng: Chúa Giêsu “tràn đầy Thánh Thần” (x.Cv 6,5; 7,55; 11,24 - với động từ “tràn đầy":Lc 1,15.41.67; Cv 2,4; 4,8; 31,9; 17,13,9.52) và Chúa Giêsu “bỏ bờ sông Giodan”. Hai chi tiết này chứng tỏ ý hướng muốn nối kết chặt chẽ cám dỗ với cuộc thần hiện sau phép rửa. Lc muốn cho ta hiểu rằng gia phả Chúa Giêsu chỉ là một “cái ngoặc đơn” mà thôi. Bắt đầu kế tiếp (4,14), Lc lần nữa nhắc lại việc Chúa Giêsu vừa lãnh nhận Chúa Thánh Thần: việc Ngài giảng dạy cũng được nối kết với cuộc thần hiện ở sông Giodan. Chính trong địa vị làm Con Thiên Chúa tràn đầy Thánh Thần mà Chúa Giêsu bắt đầu sứ mạng rao giảng của Ngài.
Lc không nói như Mc và Mt là Chúa Giêsu được Thánh Thần dẫn “vào sa mạc": Chúa Giêsu băng qua sa mạc dưới sự thúc đẩy mạnh mẽ của Chúa Thánh Thần là Đấng hình như không cho phép Ngài dừng bước. Lời xác định “trong suốt 40 ngày” ăn khớp với động từ êgeto (được dẫn đưa): dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, Chúa Giêsu đã đi suốt 40 ngày trong sa mạc. Người ta có thể thấy ở đây ảnh hưởng của câu Đệ Nhị Luật 8,2 mà Lc đã theo sát trong bản dịch 70 (câu này nằm ngay trước Đnl 8,3 mà Chúa Giêsu mượn làm câu trả lời đầu tiên): “Hãy nhớ con đường mà Thiên Chúa ngươi đã dẫn ngươi đi (êgagen se)(bản Talmud: suốt 40 năm) trong sa mạc để hạ ngươi xuống và để thử thách ngươi khi đọc Mt, người ta có cảm tưởng cơn cám dỗ xảy đến cho Chúa Giêsu sau 40 ngày, còn Lc lại theo Mc, trình bày cơn cám dỗ kéo dài suốt cả thời gian trong sa mạc. Ba chước cám dỗ do ma quỉ do Lc kể lại hình như chỉ là những hình thức tiêu biểu nhất, đặc biệt nhất của các chước cám dỗ đủ loại Chúa Giêsu phải chịu đựng suốt 40 ngày: chúng đánh dấu cao điểm tấn công của ma quỉ.
2. Về cám dỗ thứ nhất, có một hiệu đính quan trọng, được xem là của Lc, là việc thay đổi “những viên đá này, những chiếc bánh từ số nhiều sang số ít. Do mối ưu tư tả thực, Lc đã chọn kiểu nói số ít, có vẻ tự nhiên hơn. Làm như vậy, ông khiến ta bớt nghĩ đến Manna là ý tưởng tiềm ẩn nơi trình thuật của Mt: ông này, để gợi lại hình ảnh Manna che phủ mặt đất trong sa mạc, đã tự nhiên nói đến nhiều viên đá biến được thành bánh; còn hình như Lc không muốn nhấn mạnh đến ảnh Giêsu - Israel. Viết cho những người không phải là Do thái, ông dẹp bớt những gì làm họ ngỡ ngàng.
Sau lời đề nghị “hãy truyền cho những hòn đá này biến thành bánh có thể dễ dàng xác định thêm “để ông có thể ăn”. Một xác tín kiểu đó, nếu lôi kéo chú ý đến sự thoả mãn riêng tư của Chúa Giêsu, thì cũng để cho người ta liên tưởng tới cám dỗ Evà (St 3,6) và tới những cám dỗ Kitô hữu năng gặp. Nhung Lc, mặc dầu vừa nhắc đến Adam vài câu trước đó (3,38) và là người thường ưa quảng diễn dài dòng, đã không muốn gợi những liên tưởng đó. Vì thật ra, việc thoả mãn cơn đói chỉ là chuyện thứ yếu; điều tác giả muốn nhắm ở đây là chính quyền lực lạ lùng của Đấng vừa mới được tuyên bố là Con Thiên Chúa khi Ngài chịu phép rửa. Chính trong ý nghĩa này mà ta phải hiểu lời ngoắt ngoéo thâm hiểm của ma quỉ: “Nếu ông là Con Thiên Chúa”. Cũng như trong trình thuật Mt, ở đây chắc chắn ma quỉ không chút nghi ngờ gì. Sau khi đã chứng kiến tất cả những dấu chỉ lạ lùng xung quanh ngày Giáng sinh và ngày thơ ấu của Chúa Giêsu, sau khi đã thấy rõ Ngài không thể phạm tội cho đến lúc bấy giờ, và có lẽ cũng đã thấy được biến cố thần hiện ở sông Giodan (nếu biến cố này được biểu lộ ra bên ngoài) thì chắc chắn ma quỉ phải biết rõ ràng con người đang đứng trước mặt nó là Đấng Thiên sai của Israel, là Con Thiên Chúa. Vì thế chữ “nếu” của câu “nếu ông là Con Thiên Chúa” không phải là một từ ngữ nói đến điều kiện (như trong câu: “Nếu ngày mai trời tốt, tôi sẽ đi chơi) nhung là chữ “nếu” diễn tả lý do. Lời cám dỗ của ma quỉ có thể viết ra như thế này: vì ông là Đấng Thiên sai, hãy dùng quyền lực Thiên sai của ông để làm những điều lạ lùng có lợi cho ông.
Thứ tự các cám dỗ thứ hai và thứ ba nơi Mt bị Lc đảo ngược. Để biết thứ tự nguyên thuỷ, phải nghiên cứu các câu trả lời của Chúa Giêsu. những câu trả lời ấy được rút ra từ sách Đệ Nhị luật, nhưng Mt đã đảo ngược thứ tự trình bày, nghĩa là Đnl 8,3 rồi đến 6,16; 6,13. Song cũng chính Đnl đã đảo lộn thứ tự lịch sử của các biến cố thời Xuất hành: Đnl 8,3 lấy lại Xac 16 (phép lạ Manna); Đnl 6,16 thì nhắc lại Xac 17,1-7 (phép lạ nước uống); cuối cùng Đnl 6,13 tương ứng với Xac 23,32-34 (nhất là giai thoại con bò vàng). Khi đảo lộn thứ tự của Đnl, Mt lập lại thứ tự lịch sử những cám dỗ của Israel thời Xuất hành. Sự song đối giữa những cám dỗ của Chúa Giêsu và của Israel thời xuất hành. Sự song đối giữa những cám dỗ của Chúa Giêsu và của Israel phải được coi là hình thức nguyên thuỷ của trình thuật. Vậy là Lc đã thay đổi cách phối trí, lý do trước hết là để trình thuật được kết thúc ở Girusalem, như tất cả phúc âm của ông.
3. Cám dỗ thứ hai (cc.5-8) là đoạn mà Lc đã thay đổi nhiều nhất. Ông không muốn nhắc đến “một ngọn núi cao” (Mt) vì đối với Lc, ngọn núi là nơi tuyệt đối dành riêng cho việc thông giao với Thiên Chúa nhờ cầu nguyện và thần hiện, chứ không phải là nơi để cám dỗ hoặc ngay cả giảng dạy (bài giảng trên núi được ông trình bày như là đã xảy ra trên một khoảng đất bằng phẳng so sánh Lc 6,17 và Mt 5,1). Vậy, thay vì nói đến một đoạn núi cao từ đó người ta có thể thấy toàn trái đất “trong nháy mắt”. Lc biết rõ rằng không có một ngọn núi nào mà từ đó có thể thấy được cả toàn cầu, song vì muốn có vẻ thực, ông đã thay thế một chỉ dẫn địa dư mơ hồ bằng một ý niệm thời gian, để cho thấy đây là một thị kiến hoàn toàn ảo ảnh, một thị kiến rất nhanh (không đầy nháy mắt), có tính cách siêu nhiên.
Điểm thêm vào quan trọng nhất phải kể là nơi lời giải thích của câu 6. Nơi Mt, đó chỉ là một vấn đề sở hữu: “Hết mọi cái đó, tôi hiến cho ông” (Mt 4,9). Còn Lc trước tiên chú ý đến quyền lực, quyền bính, esousia (là ý tưởng ông quen dùng: 12,11; 20,20; 22,53; 23,7; Cv 20,18): ma quỉ hứa ban một quyền lực chính trị trên mọi dân nước. Do thái giáo thời gần đó (Is 24,21-23; 27,1) và nhất là trong văn chương khải huyền (Đnl 7,2) đã xác tín rằng các quyền lực ma quỉ, thù nghịch với Thiên Chúa, đang điều khiển các vương quốc trần gian, để ngược đãi dân Tc chọn. Các vương quốc này thờ ngẫu tượng và áp bức Israel, vì dân tin Tc thật. Người ta thấy ma quỉ ẩn núp dưới các bụt thần. Các nước thế gian bày tỏ lòng trung thành với ma quỉ qua việc thờ ngẫu tượng. Tư tưởng này cũng được các tác giả Thiên Chúa chia sẻ (Kh 13,2). Thánh Gioan gọi ma quỉ bằng một tên đầy ý nghĩa: “Đầu mục thế gian” (Ga 12, 31; 14,30; 16,11). Phaolô còn gán cho nó tước hiệu lạ lùng: “thần đời này” (2Co 4,4). Cũng như Lc và Ga, Phaolô nhìn thấy trong hành động của những người đóng đinh Chúa Giêsu (1Co 2,8) sự xúi giục của “đầu mục của đời tạm này”.
Thế gian, nghĩa là thời đại này, âiôn houtos, là lãnh địa của ma quỉ, nên dĩ nhiên quyền lực thế gian tuỳ thuộc nó. Nhưng phải nhận rằng quyền ấy “đã được trao cho” nó: thể thụ động diễn tả hành động hay sự cho phép của Thiên Chúa, chủ thể tối cao (so sánh Ga 19,10); đến thời sau hết, Ngài sẽ tiêu diệt các quyền lực, dân nước đã nổi lên chống lại ngài. Tạm thời, ma quỉ sử dụng quyền lực chính trị đó, và cám dỗ nói ở đây là một cám dỗ về quyền lực, dân nước đã nổi lên chống lại Ngài. Tạm thời, ma quỉ sử dụng quyền lực chính trị đó, và cám dỗ nói ở đây là một cám dỗ về quyền lực chính trị. Nhưng khác với Mt 4,9, lời hứa của câu 7 không nhằm sự chiếm hữu các vương quốc, nhưng là sự thừa hưởng một uy quyền (exousia) tuyệt đối trên tất cả các vương quốc ấy.
4. Về cám dỗ thứ ba (cc. 9-12), Lc thêm hai xác định trong lời của ma quỉ để đi sát với câu trích dẫn Tv 91 hơn. Cũng như trong cám dỗ trước, Lc rõ ràng chú trọng đến ma quỉ và những lời của nó hơn. Trái lại ông làm yếu câu trả lời của Chúa Giêsu bằng cách mở đề: “Đã có nói rằng” thay vì như Mt: “Lại có viết là”, kiểu đối đáp ăn miếng trả miếng với lập luận của ma quỉ.
5. Phần kết luận (c.13) chứa đựng nhiều âm điệu đặc biệt của Lc, làm cho đoạn văn này mang một chiều hướng thần học thật độc đáo.
Phần đầu của câu kết luận ("sau khi dùng hết mọi hình thức cám dỗ") nói đến cám dỗ, peirasmos (ở số ít). Trong Lc, peirasmos luôn ám chỉ cám dỗ theo nghĩa luân lý: 8,13; 11,4; 22,40; 22,46. Cũng tiếng ấy ở số nhiều, peirasmoi lại ám chỉ những thử thách với nghĩa tổng quát hơn nghĩa thuần luân lý: 22,28; Cv 20,19. Lc sẽ còn nói đến những “thử thách” (peirasmoi nơi 22,28) của Chúa Giêsu, nhưng không nhắc đến chữ “cám dỗ” (peirasmos) khi bàn về các môn đệ nữa; đặc biệt ông không ghi lại sự can thiệp bậy bạ của Phêrô tại Késaree của Philip (Mc 8,32-33; Mt 16,22-23) nơi Pharô bị gọi là quỉ cám dỗ Chúa Giêsu. Vậy dưới cái nhìn của Lc, việc Chúa Giêsu chiến thắng ma quỉ trong sa mạc có tính cách quyết định. Thực sự ma quỉ đã “dùng hết mọi phương chước cám dỗ”, và khi nó tái xuất giang hồ, thì không còn là để “cám dỗ” Chúa Giêsu nữa, song là tìm cách giết Ngài. Những nhận xét này cho thấy ý nghĩa của câu 13; trong tư tưởng của Lc, các chước cám dỗ Chúa Giêsu chịu thực sự đã xong rồi, sẽ không còn cám dỗ nào khác. Những thử thách Ngài gặp sau đó không còn đặt lại vấn đề lòng trung tín của Ngài đối với Thiên Chúa và với sứ mạng Ngài đã được Chúa Cha trao phó.
Phần thứ hai của câu kết luận xác quyết cách giải thích này. Lc đã viết: “Ma quỉ bỏ Ngài một thời gian” (Achri cairou) (Bj: au temps marqué, Nguyễn thế Thuấn: đợi dịp). Thành ngữ này chỉ gặp lại một lần trong nơi khác của Tân Ước, Cv 13,11: Elymas, vì muốn gây trở ngại cho Phaolô, đã bị mù không thấy ánh sáng mặt trời “một thời gian”. Như thế, khi loan báo ngày trở lại bất ngờ của ma quỉ, Lc đã minh nhiên trình bày nó như một vai trong cuộc khổ nạn. Thật thế, câu chuyện khổ nạn bắt đầu bằng sự phản bội của Giuda, nhưng ngay từ đầu đoạn văn này, ở 22,3, Lc ghi chú một câu đầy ý nghĩa: “Satan đã nhập vào Giuda”. Đó là việc tái xuất hiện của tên cám dỗ, mở màn cho một thử thách cam go nhất. Và ta cũng thấy, khi đứng trước những địch thủ tới bắt mình, Chúa Giêsu đã nói: “Này là giờ các ông, là thời của quyền lực (exousia) tối tăm (22,53).
6. Việc thay đổi thứ tự cám dỗ 2 và 3 có ý nghĩa nào?
Câu trả lời thứ nhất hệ tại chỗ nhấn mạnh sự quan tâm về địa lý của Lc. Lc muốn kết thúc trình thuật những cám dỗ tại Giêrusalem, vì trước tiên đối với ông, Giêrusalem là một địa điểm có tính cách thần học (Conzelmann). Lời giải thích này đúng nhưng chưa đủ.
Đối với Lc, Giêrusalem tự bản chất là nơi mà các lời loan báo về cuộc khổ nạn và vinh quang của Đấng Cứu thế phải được hoàn tất. Thực vậy sau cuộc cám dỗ, đoạn văn đầu tiên nói đến Giêrusalem trong tương quan với Chúa Giêsu nằm trong giai thoại biến hình; suốt cuộc biến hình này Môisen và Elia đã đàm đạo với Chúa Giêsu về việc “ra đi (oxodos) Ngài sắp hoàn tất tại Giêrusalem” (9,31). “Việc ra đi” đó ám chỉ toàn thể mầu nhiệm vượt qua: tử nạn và phục sinh. Từ giai thoại biến hình này trở đi, Lc tăng thêm những lần nhắc đến Giêrusalem như là nơi mà Chúa Giêsu sẽ lên, nơi mà Ngài sắp hoàn thành sứ mệnh. Người ta thấy cũng một ý tưởng ấy trong hai giai thoại của Phúc âm thời thơ ấu Chúa Giêsu: giai thoại “dâng con trẻ trong đền thờ” với lời tiên tri đầu tiên của Simeon loan báo cuộc tử nạn (2,34-35) và giai thoại “lạc mất, tìm lại con trẻ sau ba ngày” với một lời nói bí nhiệm chỉ hiểu được về sau (2, 41-50); đây là giai thoại tiên trưng cuộc vượt qua cuối cùng của Chúa Giêsu khi Ngài “trở về nhà Cha” và chỉ được các tông đồ tìm gặp lại sau ba ngày.
Văn mạch này cho phép ta phỏng đoán lý do tại sao Lc đã muốn trình thuật các cám dỗ đạt tới cao điểm ở Giêrusalem. Thưa vì không có gì thích hợp cho bằng việc chọn thành ấy làm nơi chấm dứt cám dỗ, nơi ma quỉ từ biệt Chúa Giêsu, nơi y sẽ tái xuất không phải để “cám dỗ” Ngài nữa mà là để gây ra cuộc thử thách cuối cùng. Đó cũng là điều giải thích tại sao Lc đã lưu tâm đến ma quỉ trong tất cả trình thuật này: ông lợi dụng trình thuật để trình bày tên đối thủ, đã một lần thất trận trong sa mạc, tưởng mình sẽ chiến thắng tại Giêrusalem trong ngày thứ sáu tuần thánh.
KẾT LUẬN
Trong trình thuật những cám dỗ, Lc nhấn mạnh đến hai điểm: khuôn mặt của ma quỉ và tương quan của biến cố này với biến cố tử nạn. Trong lúc các câu trả lời của Chúa Giêsu ngắn hơn hoặc ít quan trọng hơn so với nơi Mt, thì ở Lc, những lời cám dỗ của tên ma quỉ có vẻ thực hơn (cám dỗ 1) dài dòng hơn (cám dỗ 2) và ăn khớp với lời trích dẫn Thánh kinh hơn (cám dỗ 3). Cuối cùng đoạn kết luận của trình thuật còn nói đến ma quỉ chứ không phải Chúa Giêsu (khác với Mt). Lc nối kết các cám dỗ với cuộc khổ nạn và với Giêrusalem, nơi hoàn thành những lời tiên tri loan báo về đau khổ và vinh quang của Đấng Cứu thế. Cuộc khổ nạn và thành Giêrusalem đã được nhắc đến trong Tin mừng thời thơ ấu (2,34-35. 41-45). Rồi tiếp đến, phần đặc biệt nhất của phúc âm thứ ba lại trình bày việc Chúa Giêsu lên Giêrusalem (9,51-18,9). Khi lặp đi lặp lại Chúa Giêsu lên Gierusalem (9,51; 9,53; 13,22-33; 17,11; 18,31; 19,11-28), Lc nhấn mạnh Giêrusalem sẽ là nơi xảy ra “cuộc ra đi” ()9,31 và cuộc “siêu thăng” của Ngài (9,51). Vì vậy người ta có thể nói rằng: trong lúc các trình thuật của Mt chỉ nhìn về quá khứ của dân Israel để minh chứng sự thể hiện chương trình của Thiên Chúa, thì các trình thuật của Lc hình như lại qui hướng hơn về những biến cố chính yếu làm thành nền tảng thực sự của nhiệm cục mới: tử nạn, phục sinh, hiện xuống.
Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG
1. Chính nhờ Thánh Thần hướng dẫn mà Chúa Giêsu vào sa mạc để chịu cám dỗ. Qua việc đó ta thấy rằng bị cám dỗ không phải là một điều xấu. Chính Chúa Giêsu cũng đã biết qua cơn cám dỗ. Điều xấu là ngã gục trước cám dỗ ấy. Chống lại cám dỗ một cách anh dũng như Chúa Giêsu trong sa mạc chính là cho mình có dịp biểu lộ tình con thảo hiếu với Chúa Cha. Dĩ nhiên chúng ta không được liều mình đứng trước cám dỗ (điều ấy chỉ mình Chúa Giêsu mới có thể làm được vì Ngài là Con Thiên Chúa và sự đối đầu với ma quỉ ngay từ đầu sứ mệnh Cứu thế là một phần trong chương trình của Thiên Chúa). Liều mình đứng trước cám dỗ khi không cần thiết là điều làm Chúa Giêsu - đã không muốn làm khi ma quỉ xúi Ngài gieo mình từ nóc đền thờ xuống. Vì như vậy là thách thức Thiên Chúa. Nhưng khi hoàn toàn ngoài ý muốn mà chúng ta bị đặt trong những hoàn cảnh phải chịu cám dỗ thì không có gì phải hoảng hốt. Hãy nhớ rằng với tư cách là môn đệ của Đấng đã bị cám dỗ trong sa mạc, chúng ta đương nhiên phải trải qua cám dỗ, lúc ấy hãy làm như Chúa Giêsu: lợi dụng những phương thế siêu nhiên có sẵn: tăng sức mạnh lời Chúa, năng cầu nguyện (như Chúa Giêsu trong vườn cây dầu) nuôi dưỡng mình bằng thịt và máu của Đấng đã từng chiến thắng Satan.
2. Sứ vụ của Chúa Giêsu khai mào bằng việc chiến thắng ma quỉ: Ngài vượt lên trên nó. Thời cứu độ Chúa Giêsu khai mở là thời đánh dấu khởi đầu ngày tàn của ma quỉ: “Ta đã thấy satan từ trời rơi xuống như một tia chớp” (Lc 10,18). Ở đâu mà Chúa Giêsu ra tay hành động, ở đó ma quỉ bị bó buộc phải nhường bước, rút lui. Bây giờ cũng vậy, khi cơn cám dỗ đến độ mạnh chúng ta có cảm tưởng rằng ma quỉ thật toàn năng; tốt nhất hãy nhớ lại rằng nó chỉ là một kẻ chiến bại, một tù binh được tự do tạm thời chờ ngày tận thế, một viên tướng đã thất trận ngay từ đầu.
3. Xưa cũng như nay, các cám dỗ của ma quỉ đều giống nhau: chúng luôn luôn nhắm tách rời chúng ta khỏi Thiên Chúa bằng ý chí quyền lực, bằng thái độ từ chối tin tưởng vào sự quan phòng của Cha trên trời, bằng khuynh hướng lợi dụng sự che chở và lòng tha thứ của Ngài. Những phương thế chiến thắng các cám dỗ này cũng luôn giống nhau, đó là những phương thế chính Chúa Giêsu đã dùng: khiêm nhượng tuân phục thánh ý Chúa Cha, chấp nhận với tình yêu số phận của Chúa Cha dọn sẵn cho ta (số phận không phải là không có thánh giá, nhưng chắc chắn sẽ đưa chúng ta đến vinh quang sau cùng) từ chối khiêu khích Thiên Chúa can thiệp cách đặc biệt có lợi cho ta.
4. Ma quỉ luôn hứa ban quyền thống trị thế giới cho Kitô hữu hôm nay cũng như mọi thời, nhưng với điều kiện là tôn thờ và phục tùng nó. Một cách cụ thể, nó ban cho những phương tiện làm giàu mau chóng bằng cách lấy của người lân cận, những phương thế chiếm đoạt các chức vị lợi lộc bằng âm mưu loại trừ người xứng đáng hơn, những dịp hưởng lạc thú bằng cách bất trung trong đời sống lứa đôi... Ma quỉ không bao giờ cho đi mà không đòi lại gấp trăm, trái lại với Thiên Chúa là Đấng ân thưởng gấp trăm cho ai bố thí một ly nước lã vì danh Ngài. Xét cho cùng, đời sống Kitô hữu là một chọn lựa giữa Thiên Chúa và ma quỉ, giữa việc thờ phượng ma quỉ với Chúa Cha. Không ai có thể làm tôi hai chủ (Mt 6,24). Thờ phượng ma quỉ thì có thể được lợi trong chốc lát, nhưng sớm muộn gì cũng đưa tới thất vọng, cay đắng, cái chết đời đời. Thờ phượng Thiên Chúa thì phải từ bỏ chính mình, nhưng rồi cũng sẽ được bình an, thoả mãn nội tâm và được sống vĩnh cửu.
  
 

13. Phương cách ma quỉ dùng để cám dỗ ta - JKN

Câu hỏi gợi ý:
1. Khi câu cá, để câu được nhiều cá, ta phải dùng những thứ mồi thật ngon, những thứ mà cá ưa thích nhất. Để cám dỗ ta một cách hữu hiệu, ma quỉ dùng những loại mồi nào? Có phải là chính những nhu cầu cấp thiết nhất của ta, những điều ta ham muốn nhất không?
2. Khi bị cám dỗ ta thường phải lựa chọn giữa điều tốt và điều xấu, hay giữa điều thật tốt và điều ít tốt hơn?
3. Bạn có nghĩ rằng bị cám dỗ là một dịp tốt để ta chứng tỏ và củng cố tình yêu của ta đối với Thiên Chúa và tha nhân không?
Suy tư gợi ý:
1. Ma quỉ dùng chính những nhu cầu cấp thiết nhất của ta để cám dỗ ta
Đức Giêsu là con người, nên có những nhu cầu tự nhiên về tâm linh, tâm lý và thể lý y như mọi người. Thoả mãn những nhu cầu tự nhiên, tự bản chất, là điều chính đáng, vì chính Thiên Chúa đã dựng nên con người có những nhu cầu tự nhiên đó. Chẳng hạn, về thể chất, ăn khi đói, uống khi khát là điều chính đáng. Về tâm lý, mong được mọi người yêu thương, kính phục cũng là điều chính đáng. Nhưng có những trường hợp thoả mãn những nhu cầu tự nhiên ấy lại trở thành tội lỗi, sai trái, hay ít nhất là làm ta bớt hoàn hảo, kém giá trị. Đó là khi để thoả mãn những nhu cầu tự nhiên ấy, người ta phải lỗi một bổn phận quan trọng hơn, hoặc phải làm một điều trái đạo, đi ngược với lương tâm hay những nguyên tắc đạo đức…
Ma quỷ thường dùng những nhu cầu chính đáng nhất của con người để cám dỗ họ, đưa họ vào con đường tội lỗi. Thật vậy, biết bao người đã vì miếng ăn, vì những nhu cầu rất chính đáng về vật chất hay tinh thần, mà phải bán rẻ lương tâm, chấp nhận làm những điều sai trái hay tội lỗi.
Khi Đức Giêsu đã nhịn đói nhiều ngày, giả như Ngài có làm phép lạ để biến đá thành bánh mà ăn thì tự bản thân việc ấy chẳng có gì là xấu hay sai trái, mà còn là một việc chính đáng nữa. Vì con người có bổn phận phải lo cho sức khoẻ hay bảo vệ mạng sống mình. Nhưng nếu Ngài đã quyết định ăn lại vào một thời điểm nào đó, nhưng chỉ vì đói mà Ngài lại chiều theo cơn cám dỗ để ăn sớm hơn, thì Ngài đã lỗi với chính quyết định của mình. Nếu làm thế, Ngài tỏ ra thiếu tự chủ và chưa phải là người hoàn hảo. Nhưng trong thực tế, Ngài đã không chiều theo cơn cám dỗ.
2. Giữa hai điều tốt, ma quỉ cám dỗ ta chọn điều ít tốt hơn
Nếu phải lựa chọn giữa một điều tốt và một điều xấu, thì sự lựa chọn tương đối dễ dàng, vì sự việc quá rõ ràng. Khi ta mới bắt đầu bước vào đời sống tu thân, ta thường phải lựa chọn kiểu này. Nhưng khi đã tiến triển trên con đường tu thân, nhiều khi ma quỷ cám dỗ ta một cách rất tế nhị. Nó khiến ta phải chọn lựa một trong hai điều tốt, và ta phải cân nhắc để làm điều tốt hơn, có giá trị lớn hơn. Chính cách lựa chọn này chứng tỏ ta yêu mến Thiên Chúa, quí trọng sự thiện tới mức nào. Nếu ta chiều theo cơn cám dỗ chọn cái ít giá trị hơn, cái ít tốt hơn, điều đó chứng tỏ ta thiếu quảng đại và còn nhiều ích kỷ.
Chẳng hạn, có những trường hợp ta phải chọn lựa giữa sự an toàn của bản thân ta với sự an toàn của cả gia đình. Giữa sự tồn tại và phát triển của Giáo Hội ta với sự tồn tại và phát triển của cả đất nước. Giữa hạnh phúc của gia đình ta với hạnh phúc của cả xã hội. Giữa chất lượng với số lượng. Giữa sự sự tốt đẹp có thực bên trong và hình thức giả dối bên ngoài. Giữa ý muốn tốt lành của ta với ý muốn của Thiên Chúa. Giữa việc của Thiên Chúa với chính Thiên Chúa… Tất cả những đối tượng phải lựa chọn đều là điều tốt, nhưng nhiều khi ta không thể chọn cả hai, mà chỉ có thể chọn một trong hai. Chỉ khi ấy, cách lựa chọn của ta mới chứng minh được ta quí trọng cái nào hơn, và ta sẵn sàng hy sinh cái nào cho cái nào. Trước sự lựa chọn này, ta thường bị cám dỗ đặt nặng cái riêng hơn cái chung, bản thân ta hơn cả gia đình, gia đình ta hơn cả xã hội, Giáo Hội ta hơn cả thế giới, cái bên ngoài hơn cái bên trong, số lượng hơn chất lượng, ý riêng ta hơn ý Thiên Chúa…
Rất nhiều khi sự lựa chọn sai lầm của ta trở thành một tội ác. Chẳng hạn có nhiều người đã trở thành phản quốc chỉ vì thương gia đình mình hơn thương cả quốc gia, nên đã hy sinh quyền lợi của cả quốc gia cho quyền lợi của gia đình mình. Có những chức sắc tôn giáo đặt nặng sự phát triển của các giáo hữu trong địa hạt mình hơn cả sự tồn tại và phát triển của cả đất nước. Có những vị lãnh đạo quốc gia coi sự phát triển của đất nước mình trọng hơn sự an nguy của cả thế giới…
3. Ma quỷ cám dỗ ta chấp nhận điều xấu để thực hiện điều tốt
Cám dỗ thứ hai của Đức Giêsu là cám dỗ về quyền lực và vinh hoa phú quý. Quyền lực tự bản thân nó là một điều tốt, thậm chí rất cần thiết để phục vụ tha nhân một cách hữu hiệu và qui mô. Tuy nhiên, quyền lực vẫn là con dao hai lưỡi, nó cũng có thể khiến ta hại tha nhân một cách hữu hiệu và trầm trọng hơn. Vinh hoa phú quý tự bản thân cũng là những điều tốt, đáng ao ước, vì nó làm cho đời sống con người hạnh phúc hơn, sống xứng với phẩm giá con người hơn. Thánh Kinh vẫn coi sự giàu sang phú quý là những ơn lành Chúa ban để ân thưởng những người tốt lành (x. Đnl 8,18; 1V 3,13; 2Sb 1,12). Nhưng vinh hoa phú quí có thể làm ta mờ mắt, khiến ta chấp nhận tội ác để đạt nó cho bằng được.
Nếu người ta đạt được quyền lực hay vinh hoa phú quý một cách chính đáng do tài năng và đức độ của mình, thì quyền lực hay vinh hoa phú quý ấy quả là điều tốt lành rất đáng mong ước. Nhưng chính vì nhiều người mong ước nó, nên ma quỷ đã dùng nó làm bẫy để giết linh hồn những ai quá ham nó.
Khi ma quỷ cám dỗ Đức Giêsu lần thứ hai, nó hứa sẽ ban cho Ngài quyền lực và vinh hoa phú quý, với điều kiện là phải bái lạy, tùng phục nó. Ma quỷ vẫn dùng chiến thuật này đối với những kẻ giầu tham vọng, muốn nắm giữ quyền lực và ham sống giàu sang phú quý, ở ngoài đời cũng như trong Giáo Hội. Nhiều người sẵn sàng bán lương tâm của mình để có địa vị cao sang ngoài xã hội hay trong Giáo Hội. Trong những chế độ độc tài, nhiều chức sắc tôn giáo đã đồng ý thực hiện một yêu cầu nào đó của nhà cầm quyền, bất chấp điều đó đi ngược lại lương tâm mình, để được họ ban cho những điều kiện thăng tiến bản thân, hầu dễ dàng ngoi lên những địa vị cao trong tôn giáo mình. Có khi điều kiện ấy chỉ là chấp nhận im lặng, làm ngơ, bỏ qua, không lên tiếng, không phản ứng gì để kẻ có quyền có thể tự do thao túng, làm hại công ích hay đi ngược lại quyền lợi người dân. Như vậy, rất nhiều khi ma quỷ dùng những khát vọng chính đáng của con người để cám dỗ con người.
4. Ma quỷ cám dỗ ta tập trung vào «cái tôi» của mình
Lần cám dỗ thứ nhất và thứ ba, ma quỷ nói với Đức Giêsu: «Nếu ông là Con Thiên Chúa… thì…». Ma quỉ muốn lợi dụng nhu cầu thể hiện hay xác định bản thân mình (affirmation de soi), nhu cầu biểu lộ «cái tôi» của mình để cám dỗ con người. Đây là nhu cầu rất tự nhiên, tốt đẹp và cần thiết để con người vui sống và có hứng thú thăng tiến bản thân, đồng thời làm cho cuộc đời mình có ý nghĩa. Nhưng khi vượt quá giới hạn hợp lý, con người trở thành khoe khoang, kiêu căng, tự mãn, đáng ghét, do muốn đưa «cái tôi» của mình lên và hạ thấp «cái tôi» của người khác xuống. Con người đã từng gây bao tội ác, bao phức tạp, bao đau khổ cho mình và cho người chính vì sa chước cám dỗ về nhu cầu xác định «cái tôi» này. Như vậy, ma quỷ dùng chính nhu cầu tâm lý quan trọng nhất của con người để cám dỗ con người chỉ tập trung vào chính mình hầu xa rời Thiên Chúa và tha nhân.
Để câu một con cá, để nhử một con thú vào bẫy, ta phải chọn mồi đúng với nhu cầu và sở thích của con vật mà ta muốn bẫy. Cũng vậy, để làm ta sa bẫy, ma quỉ cũng dùng chính những gì ta cần, ta ham muốn, thường là những gì rất tốt đẹp, rất có giá trị. Vì thế, chúng ta cần phải cảnh giác với chính những nhu cầu, sở thích của mình, nhất là những tham vọng hay những gì mà ta mong muốn hay ưa thích nhất. Khi ta đặt nặng những nhu cầu, sở thích hay tham vọng của ta hơn thánh ý của Thiên Chúa, hơn những chuẩn mực đạo đức, là ma quỉ sẽ dùng chính những thứ đó để dẫn ta xa rời Thiên Chúa, và dần dà đưa ta vào con đường tội lỗi. Vậy, hãy tỉnh thức và đề phòng!
CẦU NGUYỆN
Lạy Cha, khi ma quỷ cám dỗ, nó cũng dùng chính lời Kinh Thánh để làm con lầm tưởng điều nó muốn con làm là điều tốt, là hợp với thánh ý của Cha. Nó luôn luôn dùng điều tốt để nhử con, và dùng những cách nguỵ biện để giải thích lời của Cha, hầu đưa con vào bẫy của nó. Xin giúp con khôn ngoan, tỉnh thức và thêm sức mạnh cho con khi bị cám dỗ. Nhưng cũng cho con nhìn thấy khía cạnh tích cực của cám dỗ. Chính Cha cho phép ma quỉ cám dỗ con trong mức độ con có thể chiến thắng, để con có dịp chứng tỏ và củng cố tình yêu của con đối với Cha và đối với tha nhân
 
 

14. Satan

Qua báo chí cũng như qua những câu chuyện thường ngày, chúng ta thấy xã hội loài người đầy dẫy những tội ác và bất công, nào là tham nhũng hối lộ, nào là cướp của giết người, nào là cao bồi du đãng, nào là rượu chè cờ bạc, nào là xì ke ma tuý, nào là ly dị phá thai…
Nếu hỏi tại sao lại có tình trạng bi đát ấy, người ta sẽ không ngần ngại đưa ra những lý do về xã hội, về kinh tế, về giáo dục…Tuy nhiên, có người lại bảo đó là kết quả những việc làm của ma quỷ.
Nghe qua câu trả lời này chúng ta mỉm cười, vì ma quỉ hiện giờ là một cái gì xa lạ đối với não trạng và sự suy tư của con người thời nay. Vậy thì ma quỉ là như thế nào?
Nói tới ma quỉ hay Satan chúng ta liên tưởng tới những hình vẽ, những bức tượng thời Trung cổ, vừa có sừng lại vừa có đuôi, vừa đen đủi lại vừa xấu xa, luôn ám hại chúng ta. Nó có thể dùng một chiếc đũa thần làm cho chúng ta trở nên xinh đẹp, hay biến chúng ta trở thành một nhà triệu phú, miễn là chúng ta bán linh hồn cho nó, miễn là chúng ta thờ lạy nó.
Đối với chúng ta ngày nay, những hình ảnh đó không còn thích hợp nữa. Ma quỉ dần dần mất đi vai trò và sự quan trọng trong cuộc sống. Phải chăng đó cũng là điều nó mong muốn? Chính trong sự lãng quên này mà nó ra tay hành động, làm đảo lộn trật tự và bậc thang giá trị.
Người xưa người ta thường khuyên nhủ:
- Ai không để tâm tới Thiên Chúa, thì ít nữa đừng làm lợi cho ma quỉ.
Thế nhưng, con người thời nay đã thay đổi câu nói trên:
- Ai không để tâm tới ma quỉ thì ít nữa đừng làm lợi cho Thiên Chúa.
Trong Phúc âm thì khác, Chúa Giêsu đã đặt nặng vấn đề ma quỉ, Ngài gọi nó là chủ của trần gian. Hơn thế nữa, qua đoạn Tin Mừng hôm nay, mặc dù không thể sa ngã, nhưng Ngài đã để cho ma quỉ cám dỗ, nhờ đó Ngài chia sẻ thân phận yếu đưới với con người, và vạch trần chiến thuật tinh vi của ma quỷ.
Cám dỗ thứ nhất, đó là nhu cầu vật chất. Ma quỉ lợi dụng cái đói tự nhiên để cám dỗ Chúa, bởi vì bụng đói thì đầu gối phải bò, có thực mới vực được đạo…Nó cũng hứa “cơm áo gạo tiền” cùng với những tiện nghi vật chất cho chúng ta, để rồi chúng ta quên mất lý tưởng theo đuổi và chối bỏ đức tin của mình.
Cám dỗ thứ hai, đó là lòng thèm muốn vinh quang. Nhiều người dễ dàng rơi vào chiếc bẫy của nó. Vì một chút địa vị, vì một chút quyền bính mà người ta sẽ dễ dàng bán Chúa như Giuđa và chối Chúa như Phêrô,
Cám dỗ thứ, đó ba là tham vọng thống trị. Đối với nhiều người thời nay thì tiền bạc và chức quyền vẫn là những cám dỗ thường xuyên, họ có thể đánh đổi tất cả miễn sao được thoả mãn những ước vọng kể trên.
Còn một điều nữa chúng ta cũng cần phải lưu ý: Ma quỉ thời nay không còn mặc lấy một bộ dạng xấu xa như người ta vốn thường tưởng tượng vào thời Trung cổ. Nhưng có thể là một nhân vật tầm vóc, với một bộ áo quần sang trọng nhưng lại chủ trương một lập trường, một quan điểm thật nguy hại, gây chia rẽ và đổ vỡ.
Có thể là những tác phẩm đồ sộ được in ấn một cách mỹ thuật và đẹp mắt nhưng lại chất chứa những điều khả dĩ làm lung lạc đức tin và hoen ố tâm hồn.
Bổn phận của chúng ta là phải vạch trần bộ mặt của ma quỷ. Bởi vì ma quỉ đang ở giữa chúng ta, ẩn núp dưới những chiêu bài chính trị, dưới những tờ bích chương, dưới những hình ảnh quảng cáo, dưới những chương trình truyền thanh truyền hình gây độc hại cho tâm hồn.
Vì thế, hãy tin tưởng vào Chúa và hãy tỉnh thức để xa tránh những mưu chước của ma quỷ, nhờ đó mà chúng ta mới có thể bảo vệ vẻ trong trắng của tâm hồn.
  
 

15. Nhận biết

Lần kia, một vị thầy ước muốn được thoáng nhìn thấy tâm hồn của con người và trắc nghiệm những nhận định của họ về chính bản thân mình. Ông mời ba người đi qua đường vào nhà ông. Quay sang người đầu tiên, ông nói “Giả thử anh nhìn thấy một cái túi đựng đầy những đồng tiền vàng, thì anh sẽ làm gì với cái túi đó?”
Người đàn ông trả lời: “Tôi sẽ trả cái túi đó ngay cho người chủ của nó, tất nhiên là tôi phải biết được ai là chủ nhân”.
Vị thầy kêu lên: “Thật là điên rồ?”. Thế rồi ông đặt cùng một câu hỏi cho người thứ hai.
Người đó đáp “Tôi sẽ không trả lại cái túi đó cho người chủ của nó, mà bỏ ngay vào túi của tôi. Tôi không quá ngu xuẩn đến nỗi để mặc cho thứ của cải từ trời rơi xuống đó trượt khỏi tay tôi như vậy đâu “.
Vị thầy kêu lên: “Đồ vô loại!”. Thế rồi ông đặt cùng một câu hỏi cho người thứ ba.
Người đó đáp “Thưa thầy, làm sao tôi có thể biết được là tôi sẽ làm gì trong trường hợp này? Liệu tôi có khuất phục được khuynh hướng xấu xa chăng? Hoặc sự dữ sẽ nhanh chóng chế ngự tôi, và khiến tôi cứ lấy đi thứ tài sản thuộc về người khác? Tôi không biết nữa. Nhưng nếu có ơn Chúa ban sức mạnh cho tôi chống lại khuynh hướng xấu, thì tôi sẽ trả số tiền đó lại cho người chủ của nó”. Vị thầy kêu lên: “Những lời nói của anh thật là hay. Quả thật anh là một con người khôn ngoan”.
Vị thầy cho rằng người đàn ông đầu tiên là điên rồ. Tại sao? Bởi vì anh ta hoàn toàn thiếu sự nhận biết bản thân mình. Anh ta dám cho rằng mình có đủ sức mạnh, để kháng cự lại chước cám dỗ giữ lại món tiền. Không ai biết chắc chắn rằng mình không thể sa ngã được. Người ta không sa ngã bởi vì yếu đuối, nhưng lại sa ngã là do họ nghĩ rằng mình mạnh mẽû.
Vị thầy gọi người đàn ông thứ hai là hạng vô loại, bởi vì anh ta có ý định giữ lại tài sản không phải thuộc về mình, mà lương tâm không hề day dứt chút nào. Đối với một con người như vậy, chước cám dỗ là một cơ hội để làm cho mình giàu có lên, bằng tài sản của người khác.
Vị thầy khen ngợi người đàn ông thứ ba là một con người vừa tốt bụng, vừa khôn ngoan. Đó là vì anh nhận biết rằng mình yếu đuối giống như tất cả mọi người khác. Anh hy vọng rằng khi đương đầu với chước cám dỗ giữ lại số tiền, thì anh sẽ có sức mạnh để làm được điều đúng đắn. Nhưng anh biết rằng để làm được như vậy, anh cần phải có ơn Chúa giúp, và anh chuẩn bị để tìm kiếm sự giúp đỡ đó.
Tất cả chúng ta đều yếu đuối và dễ sa ngã. Đây có thể là một sự thật gây bối rối, nhưng trong khi liều lĩnh, chúng ta lại không biết đến điều này. Vấn đề lớn trong thời đại của chúng ta là chúng ta đã thất bại trong việc nhận biết chính mình, trong việc nhận ra sự dữ và đối phó với sự dữ ở ngay trong con người mình. Tuy nhiên, khi nhận biết và chấp nhận sự thật thấp hèn này, thì chúng ta có được một niềm an ủi và sự tự do.
Chúng ta phải đấu tranh chống lại sự dữ nơi những người khác và nơi xã hội. Nhưng cuộc đấu tranh gay go nhất là chống lại sự dữ phát xuất từ ngay bên trong con người của chúng ta. Bản chất của chúng ta là có những xung đột nội tâm cứ thúc giục chúng ta, làm cho chúng ta luôn luôn có thể thực hiện được điều tốt lành, nhưng điều đó không bao giờ là dễ dàng cả. Chiến thắng gay go nhất chính là chiến thắng chính bản thân mình.
Chước cám dỗ của Đức Giêsu không phải là đóng kịch, mà là sự thật. Những cám dỗ của Đức Giêsu là những chước cám dỗ của các Kitô hữu thuộc tất cả mọi thời đại: sống chỉ vì vật chất; tìm kiếm vinh quang cho bản thân mình, hơn là vinh quang cho Thiên Chúa; và từ bỏ việc thờ phượng Thiên Chúa, để tôn thờ quyền lực và sự nổi tiếng theo thế gian.
Chiến thắng của Đức Giêsu vượt lên trên Satan không phải là chiến thắng một lần cho tất cả. Người đã chiến thắng một cuộc chiến đấu, chứ không phải là một cuộc chiến tranh. Còn có những lần tấn công khác mà chúng ta cần phải cự tuyệt. Một số người cho rằng mình sẽ đạt được một cấp độ, khi họ vượt ra ngoài chước cám dỗ. Đức Giêsu không bao giờ đạt được một cấp độ, các thánh cũng vậy. Thiên Chúa ở với chúng ta trong những cuộc đấu tranh của chúng ta, giúp đỡ chúng ta chế ngự nó.
Thánh Augustinô nói: “Chính thông qua chước cám dỗ, mà chúng ta nhận biết được bản thân mình. Chúng ta không thể chiến thắng đạt được triều thiên của mình, trừ phi chúng ta vượt qua được chước cám dỗ đó, và chúng ta không thể vượt qua được, trừ phi chúng ta đi vào cuộc chiến đấu, và không có cuộc chiến đấu, trừ phi chúng ta có một kẻ thù và những chước cám dỗ mà kẻ thù đó mang lại.
 
 

16. Cám dỗ

Một số người cho rằng thật khó mà tin rằng Đức Giêsu có thể bị cám dỗ. Mặc dù có bản chất thần thánh, nhưng Người cũng có một bản chất của con người. Ngoài ra, tự thân chước cám dỗ không phải là một tội lỗi. Có phải ma quỷ đã thực sự hiện ra với Người không? Chúng ta không biết. Điều chính yếu là những chước cám dỗ của Người đều có thật, giống như chúng ta vậy, mặc dù quỉ sứ không hiện ra với chúng ta trong hình dạng của một con người. Nhưng những chước cám dỗ của Người chứa đựng cái gì?
Chước cám dỗ đầu tiên là biến hòn đá thành bánh. Ngoài ý nghĩa rõ rệt, chữ “bánh” có thể mang ý nghĩa là những thứ vật chất nói chung. Ma quỉ đang nói với Đức Giêsu là hãy sử dụng những quyền năng đặc biệt của Người, để mang lại cho con người tất cả những thứ vật chất mà có thể họ mong muốn. Nhưng Đức Giêsu biết rằng tự thân những thứ vật chất đó sẽ không bao giờ thoả mãn được con người. Công việc chính của Người là nuôi dưỡng tâm trí và tấm lòng con người bằng lời của Thiên Chúa. Đây là chước cám dỗ mang lại cho con người những điều họ mong muốn, hơn là những nhu cầu của họ. Chước cám dỗ chính là thoả mãn đám đông, bằng cách cho họ những gì sẽ thoả mãn các mong muốn nhất thời của họ, khi họ không biết điều gì mình thực sự cần đến.
Chúng ta có những nhu cầu và những khát vọng lớn lao hơn. Tâm hồn con người thực sự khát khao cái gì? Chắc hẳn rằng đó không phải là cơm bánh. Cơm bánh là cái mà cơ thể thèm khát. Sau phép lạ ban bánh và cá, ngày hôm sau, dân chúng trở về với mong muốn sao cho có thêm bánh nữa. Nhưng Đức Giêsu đã từ chối ban thêm bánh cho họ. Người nói “Các ngươi đừng làm việc vì của ăn không thể tồn tại được, nhưng hãy làm việc để tìm kiếm lương thực kéo dài cho đến cuộc sống đời đời”.
Đối với một vị thầy về mặt thiêng liêng, thì tinh thần chiếm vị trí ưu tiên vượt lên trên lương thực của cơ thể. Khi đặt ưu tiên cho những nhu cầu thân xác, điều đó có nghĩa là giảm giá trị con người, là đối xử với họ không hơn gì một con vật. Chúng ta cũng bị cám dỗ chỉ sống cho những thứ vật chất mà thôi. Không phải là chúng ta khước từ đời sống thiêng liêng, nhưng chúng ta bỏ qua đời sống đó.
Chước cám dỗ thứ hai là tạo dựng một vương quốc chính trị, là việc dẫn đến quyền lực hơn là tình yêu. Quyền lực tạo ra một sự thay thế dễ dàng cho công việc khó khăn mà có thể tình yêu đòi buộc. Người ta dễ dàng muốn làm chủ người khác, hơn là yêu thương họ, dễ dàng thống trị người khác, hơn là trở thành người phục vụ họ. Đức Giêsu không đến để cai trị, nhưng để phục vụ. Người không hề nại vào quyền lực thần thánh của Người, nhưng đã tự huỷ mình ra không, và trở thành người tôi tớ đầy yêu thương đối với tất cả mọi người. Chúng ta luôn luôn bị cám dỗ thay thế tình yêu bằng quyền lực.
Chước cám dỗ thứ ba cốt ở việc làm được một điều gì đó kỳ lạ (tự gieo mình xuống khỏi đền thờ), nhằm khơi gợi lòng tin – giống như một ảo thuật gia có thể khơi gợi được lòng tin, qua nghệ thuật làm một số chuyện mang tính cách quảng cáo phô trương. Ý tưởng này nghe thật hấp dẫn. Một kiểu quảng cáo như vậy sẽ làm cho mọi người đồn thổi về Người tại Giêrusalem. Nhưng lối gây giật gân lại đưa đến vinh quang cho bản thân mình, hơn là vinh quang cho Thiên Chúa. Đức Giêsu khước từ việc gieo mình này. Người không muốn tìm kiếm những kẻ ái mộ mình. Người mong muốn có những kẻ đi theo Người, nghĩa là những kẻ muốn bắt chước lối sống của Người.
Trong suốt sứ vụ của Người, Đức Giêsu đã khước từ việc ban cho dân chúng những kiểu dấu lạ, ngay cả khi người ta ép buộc Người phải làm như vậy. Những loại dấu lạ này không có ích lợi gì cả, không đòi hỏi điều gì tốt đẹp nhất nơi chúng ta, mà chỉ hạ thấp giá trị của lòng tin. Lòng tin không phải là ma thuật. Sự thánh thiện không hệ tại ở việc cố gắng ép buộc Thiên Chúa phải làm theo ý muốn của chúng ta, nhưng là nỗ lực bắt buộc chính bản thân mình phải làm theo thánh ý Thiên Chúa.
Các chước cám dỗ là đòn tấn công trên tất cả những yếu tố cơ bản đối với sứ vụ của Đức Giêsu. Vâng, Người đến để thiết lập một vương quốc, nhưng không phải là loại vương quốc mà Satan đề nghị. Và Người đã khước từ chước cám dỗ đạt được vương quốc bằng phương tiện trần thế. Cả ba chước cám dỗ cuối cùng đều qui về cùng một điều: đặt những thứ vật chất và vinh quang bản thân lên trước hết, kế đó, mới đến các điều thiêng liêng và Thiên Chúa. Nói chung, đây là những chước cám dỗ chủ yếu trong Giáo Hội của Người, và nơi mỗi người chúng ta là các thành viên trong Giáo Hội. Chúng ta phải luôn hướng mắt về Đấng đã khước từ biến những hòn đá thành bánh, tự gieo mình xuống khỏi nóc Đền thờ, và cai trị bằng quyền lực.
Kinh nghiệm này đã giúp cho Đức Giêsu tự thấu hiểu sứ vụ của Người là gì, và làm thế nào để hoàn tất sứ vụ đó. Và một khi đã biết được sứ vụ của mình là gì, thì Người quyết định hoàn toàn tận hiến cho sứ vụ đó.
Chước cám dỗ không phải là những thứ chỉ xảy ra một lần mà thôi, không bao giờ chúng kết thúc, mà có thể trở lại mỗi khi có cơ hội. Trong suốt cuộc đời của Đức Giêsu, chước cám dỗ vẫn tiếp tục xảy ra, bởi vì ma quỉ vẫn cứ tìm mọi cách để xói mòn sứ vụ của Người, mặc dù là vô hiệu. Ngay cả khi Người đã bị treo trên thánh giá, chúng ta vẫn nghe thấy tiếng vang vọng của chước cám dỗ thứ hai “Nếu ông ta là Đấng Mêsia, thì ông ta hãy xuống khỏi thánh giá, rồi chúng ta sẽ tin ông ấy”.
Tất cả những ai đang đấu tranh để sống một cuộc sống tốt đẹp, đều có thể ghi lòng tạc dạ điều này: Việc chống trả lại chước cám dỗ không hề dễ dàng đối với Đức Giêsu, cũng không dễ dàng đối với chúng ta. Nhưng nơi Đức Giêsu, chúng ta có được một người anh, Đấng biết được rằng chúng ta đang phải chiến đấu với cái gì. Người tha thứ cho chúng ta, và nâng chúng ta lên, khi chúng ta vấp ngã. Người ban cho chúng ta khả năng tuân theo Lời của Thiên Chúa, tin tưởng nơi Người và chỉ thờ phượng một mình Người mà thôi.
  
 

17. Cơm bánh

Con người không chỉ sống bằng cơm bánh. Cơm bánh chỉ là một trong những thức ăn chủ yếu của cuộc sống – cuộc sống của thân thể. Để nuôi dưỡng một con người, không giống như vỗ béo một con vật. Cơ thể của chúng ta cần có lương thực. Linh hồn của chúng ta cũng vậy. Linh hồn chúng ta đang khát khao lương thược nuôi dưỡng. Câu chuyện về Elvis Presley minh hoạ hùng hồn cho chân lý này.
Elvis trở nên rất giàu có. Ông ta sở hữu 8 xe hơi, 6 xe máy, 2 máy bay, 16 tivi, một toà lâu đài rộng lớn và nhiều tài khoản ngân hàng. Vượt lên trên tất cả những thứ đó, anh ta còn là thần tượng của nhiều người hâm mộ. Tuy nhiên, anh không hề hạnh phúc. Giữa tất cả sự giàu có và thành công của mình, anh ta đã phải trải qua tình trạng bất ổn về tinh thần, và thường than phiền về nỗi cô đơn, buồn chán.
Anh giãi bày tâm sự với một phóng viên “Tiền bạc gây ra nhiều chuyện nhức đầu”.
Mẹ của anh rất lo lắng cho anh. Không bao giờ bà muốn anh bị những chuyện đó. Bà chỉ đơn giản mong muốn anh trở về nhà, mua một cửa hàng bán vật dụng trong nhà, cưới vợ và có con.
Càng ngày, anh càng trở nên sợ hãi và trầm cảm. Năm lên 22 tuổi, anh nhận thấy là không còn thế giới nào để chinh phục nữa. Tình trạng bất ổn này có thể là một cơ hội. Đây là một lời nhắc nhở rõ ràng rằng “con người không chỉ sống nguyên bằng bánh”, nghĩa là chỉ sống bằng những thứ vật chất mà thôi.
Thông điệp này vang lên lớn tiếng và rõ rệt trong bài Tin Mừng hôm nay. Đây là một thông điệp quan trọng, và có lẽ thích hợp với ngày nay hơn bao giờ hết. Mặc dù chúng ta có thể nhận thấy được lẽ phải của bức thông điệp này, nhưng trên thực tế, thật không dễ dàng thực hiện. Chúng ta không chỉ sống bằng cơm bánh – ít nhất là không, nếu chúng ta mong muốn được sống dồi dào, và hoàn toàn được nuôi dưỡng với tư cách là con người và con cái của Thiên Chúa. Vậy chúng ta còn cần đến điều gì khác nữa. Chúng ta cần đến Lời Chúa.
Bạn hãy thử tưởng tượng cảnh cha mẹ nuôi dưỡng con cái của họ, mà không bao giờ nói một lời nào với con trẻ, không hề hướng dẫn, khích lệ, xác nhận, an ủi. Không bao giờ họ nói một lời để truyền đạt sự bình an và đón nhận, hoặc tình yêu thương và niềm vui. Cơ thể của con trẻ có thể được nuôi dưỡng, nhưng tâm trí và linh hồn của chúng bị trống rỗng. Chúng ta là con cái của Thiên Chúa. Chúng ta cần được nghe Lời của Người.
Nếu chỉ có cơm bánh, không phải lúc nào cũng sẽ đảm bảo được sự sống còn, ngay cả về mặt thể lý. Thi sĩ Irina Ratushikaya đã sống một thời gian trong nhà tù cộng sản ở Nga (với tư cách là tù nhân chính trị). Bà nói “Nhiều người phụ nữ có nhiều thức ăn hơn tôi, tuy nhiên, họ vẫn bị chết”. Điều gì đã giữ cho bà còn sống được? Chắc hẳn là nhờ đức tin Kitô giáo của bà.
Không phải chỉ có cơ thể con người mới đói khát. Tâm hồn và tinh thần con người cũng biết đói khát nữa. Chúng ta sẽ không được nuôi dưỡng đầy đủ, cho đến khi chúng ta thừa nhận sự đói khát của tâm hồn và tinh thần.
Đức Giêsu thách đố chúng ta hướng tới những nỗi khát khao sâu xa hơn và những nhu cầu lớn lao hơn của chúng ta. Tâm hồn thực sự khát khao điều gì? Thưa rằng tâm hồn khát khao loại lương thực không thể hư nát – Lời Chúa. Lời Chúa có sức mạnh nuôi dưỡng chúng ta. Lời Chúa nuôi dưỡng chúng ta bằng tấm bánh của cuộc sống có ý nghĩa, tấm bánh của niềm hy vọng, và vượt lên trên tất cả, đó là tấm bánh của tình yêu.
  
 

18. Cám dỗ

Thánh Grêgôriô Giáo Hoàng đã viết như sau: Hết mọi ngày trong năm, lòng đạo đức của người tín hữu được diễn tả bằng nhiều hình thức khác nhau, nhưng không hình thức nào quan trọng cho bằng lễ Phục sinh. Bởi vì chính từ sự Phục sinh mà xuất phát tính cách thánh thiện của các lễ khác. Với tất cả nguồn ân sủng vũ trụ đã nhận được đều do bởi cây thập giá của Chúa. Lẽ cố nhiên đó, mừng ngày lễ Phục sinh và để tham dự vào các mầu nhiệm của Chúa, chúng ta chuẩn bị bằng 40 ngày ăn chay quả là một việc chính đáng. Không riêng gì các Giám mục, linh mục, các phó tế có nhiệm vụ thanh tẩy mình khỏi tội lỗi mà cả toàn thể Giáo Hội. Tất cả mọi người vì là đền thờ của Thiên Chúa phải được tráng lệ trong từng hòn đá huy hoàng, trong từng góc một. Hiểu như thế chúng ta mới ý thức được tính cách nghiêm cẩn và khổ hạnh trong suốt thời gian mùa chay mà chúng ta khai mạc từ thứ tư lễ tro.
Mùa chay là thời kỳ đi bộ, phải vất vả nhọc nhằn mà mục đích là hy sinh chịu khó thanh tẩy để tham dự vào chặng đường khổ nạn của Chúa Kitô. Những hy sinh khổ hạnh trong mùa chay được diễn tả trong hai bài đọc và trong bài Phúc âm của thánh lễ Chúa nhật I Mùa chay. Cuộc đi bộ, cuộc hành trình trong 40 ngày của mùa chay được ví như là cuộc hành trình gian lao đau khổ của dân Do thái trong những năm bị nô lệ bên Ai Cập, bị dân bản xứ hành hạ mạt sát tàn nhẫn.
Trong thời gian nô lệ, dân Do thái đã kêu gào Thiên Chúa nhìn lại số phận đau thương của họ. Quả thật, Chúa đã đến giải thoát họ khỏi ách nô lệ Ai Cập và dẫn vào một xứ sở phồn thịnh, nơi đó sữa và mật ong trôi chảy dồi dào.
Quan điểm trên đây thánh Phaolô trình bày lại theo lối văn linh động của ngài bằng quan niệm đức tin, và thực ra đức tin cũng là một lời cầu khẩn lên Thiên Chúa. Chỉ Ngài mới có quyền năng cứu thoát chúng ta khỏi vòng nô lệ tội lỗi.
Quan niệm đức tin còn tiếp diễn trong bài Phúc âm của Chúa nhật I Mùa chay được thánh Luca diễn tả: Được tràn đầy Chúa Thánh Thần, Chúa Giêsu từ sông Giocđan trở về, sau đó Chúa Thánh Thần đưa Ngài đến hoang địa, tại đây Chúa bị cám dỗ trong vòng 40 ngày, nghĩa là Chúa bị ma quỉ quấy phá sau khi đã chịu phép rửa của thánh Gioan, tức là sau khi Chúa Giêsu đã được Chúa Cha long trọng tuyên bố: “Đây là Con Ta yêu dấu”.
Satan biết rằng, Chúa Giêsu Con Thiên Chúa có quyền năng có thể thực thi những dấu chỉ lớn lao, do đó Satan đến cám dỗ Chúa hãy hành động theo uy quyền của một vị cứu thế theo nghĩa trần gian oai phong lẫm liệt. Hai lần Satan xúi giục Chúa theo danh nghĩa: “Nếu ông là Con Thiên Chúa…” Các loại cám dỗ ỷ vào uy thế Thiên Chúa này còn theo mãi cho đến ngày Chúa chịu tử nạn. Chúa đã bị treo trên thập giá rồi mà ma quỉ còn dùng miệng dân chúng để thử thách Chúa một lần sau cùng: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, là người được Thiên Chúa lựa chọn thì hãy tự cứu mình đi”.
Ma quỉ cám dỗ Chúa đi ra ngoài chương trình của Thiên Chúa Cha đã tiền định. Nó xúi giục Ngài là một vị cứu thế theo quan điểm của một người trần gian được người ta hoan hô, chứ không theo ý định của Thiên Chúa. Do đó mà Chúa Giêsu đã trả lời cho ma quỉ khi Ngài nhắc đến lời Kinh Thánh có chép rằng, hãy minh chứng cho thế giới và toàn thể nhân loại biết sở dĩ Chúa xuống trần gian là để thực thi thánh ý của Thiên Chúa Cha, và sau đó Ngài đã chiến thắng ma quỉ là Ngài đã tin vào lời của Thiên Chúa Cha.
Cơn cám dỗ của Chúa Giêsu cũng là tiêu biểu cho sự cám dỗ ngàn đời của mỗi người Kitô hữu chúng ta trên trần gian này. Ma quỉ xúi giục chúng ta chọn nếp sống tiện nghi, dễ dàng thực thi những gì theo ý muốn riêng tư của mình, chứ không phải sống theo lề luật là thực thi thánh ý của Thiên Chúa.
Trong mùa chay này, chúng ta có nhiệm vụ thanh luyện chính mình để xứng đáng được tham dự vào các mầu nhiệm của Chúa Phục sinh. Xin Chúa hướng dẫn chúng ta trong cuộc hành trình biến đổi này.
  
 

19. Cám dỗ

Cách đây vài năm, ngay tại giữa thủ đô Paris của nước Pháp, xuất hiện một Đan viện dòng Trapis, một dòng tu có nếp sống khắc khổ nghiêm ngặt. Người ta không khỏi ngạc nhiên tự hỏi: Tại sao một dòng tu vốn có truyền thống rất lâu đời lại chọn những địa điểm xa cách thành thị để lập những Đan viện, nhờ đó các Đan sĩ hưởng được bầu khí thanh tịnh thoát tục, nối tiếp tinh thần của các ẩn sĩ ngày xưa trong sa mạc hoặc trong rừng vắng, nay lại hiện diện giữa chốn đô thị rực rỡ ánh sáng văn minh, sôi động nhịp sống chính trị, kinh tế và văn hoá này? Phải chăng dòng tu nay đã thay đổi đường hướng cho hợp thời, hợp hoàn cảnh?
Vị viện phụ của Đan viện nói trên đã trả lời như sau:
Dòng vẫn trung thành với truyền thống đan tu và thoát tục của mình trong việc lập một Đan viện ngay giữa chốn phồn hoa đô hội này, bởi vì tại những địa điểm ồn ào, náo nhiệt như vậy chúng tôi khám phá ra một bộ mặt mới của hoang mạc, của rừng rú, của thử thách để nêu một chứng từ, để cất lên một tiếng kêu thức tỉnh.
Nếu như ngày nay Đức Giêsu cần một hoang địa để chay tịnh, cầu nguyện và chịu thử thách, Người có lẽ không phải nhọc công đi đâu xa, nhưng có thể đến bất kỳ một trung tâm thành phố nào trong xã hội cực kỳ văn minh tiến bộ của thời đại chúng ta. Bởi lẽ theo truyền thống Thánh Kinh, hoang địa là địa điểm của thử thách, của sàng lọc, thanh luyện như dân Israel xưa phải vượt qua hoang địa trước khi được vào đất hứa.
Phải chăng xã hội hiện đại của chúng ta hôm nay lại không đầy dẫy tình chất thách đố cam go, sàng lọc và thanh luyện dữ dội như bất kỳ một hoang địa nào thời xưa. Đây là nơi chạm trán của tứ chiếng anh hùng, của đủ mọi bộ mặt, mọi tâm dạ, mọi thủ thuật, mọi mánh lới, mọi chiêu bài, mọi chủ nghĩa, mọi ý thức hệ, mọi thiên thần và mọi gã quỉ ma vương. Đây là nơi vàng thau lẫn lộn, chân tình và dối trá, trung nghĩa và dua nịnh, can trường và hèn nhát, ánh sáng và bóng tối, thánh thiện và tội lỗi, yêu thương và thù hận.
Cũng theo truyền thống Thánh Kinh, hoang địa là thế giới của thú dữ, của rắn rết, bọ cạp, là vùng đất chết nơi con người không thể sinh sống, tồn tại. Phải chăng thế giới văn minh hiện nay của chúng ta lại không đầy dẫy những loài thú ăn thịt người, những loài giống rắn hổ mang, những dòng bọ cạp hiểm độc nguỵ trang dưới bộ mặt con người xinh đẹp, sang trọng, học thức, đạo đức, nhân nghĩa? Phải chăng xã hội thừa mứa tiện nghi vật chất của chúng ta hiện nay lại không là một vùng đất chết khi không còn tình người, không còn trái tim trắc ẩn, không còn lòng nhân ái vị tha, không còn tình cảm chia sẻ đùm bọc mà chỉ toàn là lợi dụng, trao đổi, mua bán, vụ lợi, thực dụng, lạnh lùng và sơ cứng?
Phải chăng xã hội văn minh phồn hoa đô hội của chúng ta hiện nay lại không phải là một bãi tha ma khi mà mọi giá trị tinh thần, mọi truyền thống đạo đức đều bị chôn vùi dưới nấm mồ của chủ nghĩa sùng bái vật chất, chủ nghĩa thụ hưởng, chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa vô thần?
Phải chăng xã hội vốn tự hào là đỉnh cao trí tuệ, với khoa học kỹ thuật hùng hậu lại không đang biến thành cõi rừng rú nơi bạo lực được cổ xuý, hận thù được cấp dưỡng, hành vi sát nhân được trả lương, tuyên dương, dù nạn nhân là những trẻ em vô tội, những bào thai chưa kịp nhìn thấy mặt cha mẹ, nơi người nghèo bị khinh miệt, người già yếu tật nguyền bị bạc đãi lãng quên, người thiểu số bị tước bỏ quyền lợi về kinh tế, chính trị?
Nếu như ngày nay Đức Giêsu bước vào hoang địa mới của xã hội loài người hiện đại để bắt đầu cuộc tịnh chay và cầu nguyện, Người có lẽ sẽ không còn gặp những thử thách quá đơn giản và kinh điển về thói mê ăn, tính háo danh và lòng tham lam của cải, thay vào đó Người có lẽ phải đối đầu với trăm ngàn tình huống, trường phái phức tạp tinh vi hơn nhiều. Đó là vấn đề miếng cơm manh áo hằng ngày giữa một thị trường kinh tế toàn cầu hoá, không có đất sống cho tôm tép, cho con sâu chú kiến, mà chỉ có hạng kình ngư cá mập, hùm beo làm mưa làm gió. Đó là nỗi cám dỗ khó chống cưỡng, muốn làm giàu cách nào dễ dãi nhất, ít vất vả nhất, nhanh chóng nhất, dù có thể là vô luân nhất, dơ bẩn nhất như buôn lậu vũ khí, ma tuý, buôn người và rửa tiền.
Có thể trong bối cảnh hoang địa đời mới này, Đức Giêsu sẽ phải dấn thân vào một cuộc chiến đấu cam go và phức tạp gấp trăm ngàn lần hơn và cũng sẽ kéo dài trăm ngàn lần hơn. Có thể Đức Giêsu sẽ phải chật vật trăm ngàn lần hơn khi đối đầu với một Satan trong một bối cảnh xã hội văn minh, kỹ thuật cao, tinh xảo cực kỳ hôm nay. Và có thể Người sẽ phải cô đơn một mình chống lại Maphia trăm ngàn lần bi đát hơn, vì không dễ tìm ra ai đó trong cõi hoang mạc rừng rú của xã hội hôm nay để đóng vai thiên thần đến động viên tiếp sức thêm cho Người.
Rồi có thể trong cuộc chiến với Satan thời đại khoa học điện tử hôm nay, Đức Giêsu sẽ không còn một giây phút rảnh rang để thở, để cầu nguyện, để thân thưa cùng Thiên Chúa Cha, để nhớ lấy một câu Kinh Thánh mà củng cố đức tin cho mình, vì ma quỉ không còn nghỉ giữa hiệp đấu để chờ đợi cuộc tấn công khác như xưa nữa, mà tranh thủ liên tục cả ngày lẫn đêm, luôn cả dịp hưu lễ.
Có thể trong cuộc chiến đấu này, cuối cùng rồi Đức Giêsu sẽ chiến thắng Satan như Người đã từng chiến thắng và sẽ mãi mãi chiến thắng, song còn những kẻ muốn thực sự theo bước Người vào cuộc chiến đó trong bối cảnh của thế giới, của xã hội hôm nay thì chiến thắng vẫn còn là một ẩn số, một thách đố. Vì thế, chúng ta cần phải giữ vững niềm tin của mình vào Chúa Kitô mà giờ đây chúng ta cùng nhau tuyên xưng đức tin qua kinh tin kính.
  
 

20. Cám dỗ

Đoạn Tin Mừng kể việc Chúa Giêsu bị cám dỗ và chiến thắng Satan. Giáo Hội cho chúng ta nghe đọc đoạn Tin Mừng này để mời gọi chúng ta nhìn ngắm hình ảnh Chúa Giêsu như kiểu mẫu và bảo đảm cho chúng ta trong cuộc chiến đấu với Satan và những cám dỗ của nó.
Chiến thuật hay phương thế ma quỉ sử dụng để lôi kéo, xúi giục, thúc đẩy người ta phạm tội là cám dỗ. Chúng không kiêng nể ai hay không buông tha ai, vì thế không ai thoát khỏi cám dỗ của chúng. Bản chất của cơn cám dỗ là sự quyến rũ. Bất cứ cơn cám dỗ nào cũng đều mang một bộ mặt quyến rũ giả tạo, một sự hứa hẹn hão huyền, và một vị ngọt ngào lừa phỉnh. Thế nhưng những tính cách giả tạo, hão huyền và lừa phỉnh đã được che đậy tài tình bởi bàn tay bậc thầy là ma quỉ và cơn cám dỗ vẫn thành công như lần đầu nó đã thành công.
Thực vậy, ma quỷ đã thành công khi cám dỗ ông bà nguyên tổ bằng trái cấm. Trái cấm bao gồm nhiều vẻ quyến rũ: cung cấp cho thị giác một hình ảnh mê hoặc, tuyệt diệu, cung cấp cho thính giác những lời bảo đảm, thoả mãn, cung cấp cho khứu giác mùi vị mời mọc, quyến rũ, cung cấp cho xúc giác sự êm dịu, thích thú, nhất là khi đã biết và có trái cấm trong tay, rồi khi đưa lên ăn, lại có thêm sự tham gia và đồng tình của vị giác. Đến lúc này thì cái bẫy sập xuống, bộ mặt thật của cơn cám dỗ lộ ra nguyên hình và con người đã mở mắt nhìn ra sự thật.
Điều đáng buồn là qua cái nhìn ấy, con người nhận ra chính mình lại là nạn nhân tự nguyện, mình đã ngã vì chính sự yếu đuối cũng như sự dại dột của mình. Ông Richard Wumbrand đã diễn tả điều này rất đúng bằng hình ảnh như sau: chúng ta như những cô gái vừa đến độ xuân thì. Người yêu cô thật lòng, muốn chia sẻ cuộc đời với cô và kẻ sở khanh lừa phỉnh, chỉ muốn qua đêm để hại đời cô, cùng dùng chung một ngôn ngữ, cùng chia chung một động từ, đó là “Anh yêu em”. Nếu chỉ để ý đến những cái hào nhoáng bên ngoài hay những lời nói ngon ngọt và không có sự tỉnh táo cần thiết để phân biệt thì chắc chắn thảm hoạ sẽ xảy đến.
Đàng khác, bên cạnh sự lừa đảo tinh vi của cơn cám dỗ và sự khôn ngoan quỉ quyệt của kẻ đứng sau cơn cám dỗ ấy, phải kể đến sự áo tưởng và vụng dại của con người. Chơi dao có ngày đứt tay; đùa với lửa có ngày gây nên hoả hoạn. Con người biết đó là những bài học và đã có biết bao nhiêu thí dụ “xương máu” để chứng minh. Thế nhưng vẫn còn không ít người sa lầy ngay trên bánh xe của người đi trước. Biết rõ đó là trái cấm, biết rõ đó là ma tuý, biết rõ đó là cơn cám dỗ, thế mà vẫn liều lĩnh mon men đến gần, hay chần chừ vì ảo tưởng: không sao đâu. Vì thế các nhà đạo đức cho rằng: tránh xa những dịp tội là tốt nhất, và nếu có phải giáp mặt thì không nên trao đổi hay thoả hiệp gì cả.
Ma quỉ biết rất rõ những gì chúng ta cần, chúng ta thích, chúng ta ham mê, nếu không tỉnh táo, chắc chắn chúng ta sẽ bị sa bẫy cám dỗ của chúng vì chính những nhu cầu và sở thích của mình. Tương tự như khi chúng ta muốn bẫy một con vật, chúng ta phải tìm hiểu xem con vật cần gì, muốn gì, thích gì, tìm gì. Sau đó chúng ta đặt thứ mồi đó vào bẫy, và con vật nào dại dột sẽ sa bẫy. Nếu chúng ta không biết con vật cần gì, thích gì thì chúng ta sẽ không thể bẫy được con vật ấy vì đã để vào bẫy những thứ không thích hợp. Chẳng hạn như khi câu cá, nếu chúng ta không biết rằng cá thích ăn giun hay trùng mà cứ để vào lưỡi câu thịt bò hay thức ăn khác thì rất ít khi câu được cá. Vì vậy, để đề phòng cám dỗ, chúng ta nên đề phòng chính những nhu cầu và ham muốn của chúng ta. Những người nào giảm thiểu nhu cầu của mình tới mức tối đa và tập luyện không ham muốn ước vọng nhu cầu gì cả thì ít khi bị cám dỗ, và nếu có bị cám dỗ thì cũng thắng được dễ dàng.
Chúng ta thấy ma quỷ đã lợi dụng ngay nhu cầu căn bản nhất của con người là ăn uống để cám dỗ Chúa Giêsu. Ngài nhịn ăn đã 40 ngày, nên nhu cầu ăn uống lúc đó thật là khẩn thiết và chính đáng. Nhưng Chúa đã làm chủ được nhu cầu thể xác và không sa chước cám dỗ. Tiếp đến, ma quỉ nhằm vào những gì mà tất cả mọi người đều ham muốn, thậm chí đam mê, đó là sự giàu sang, quyền bính, địa vị, danh vọng. Hễ đã là người thì ai cũng thích cái tôi của mình được đề cao, được tôn vinh, được triển nở, được thăng tiến. Rất nhiều người đã nhượng bộ ma quỉ để có một đời sống dễ dãi, giàu có, sang trọng, uy quyền. Nhưng Chúa Giêsu đã không để những ham muốn đó làm chủ, nên đã không sa bẫy của chúng. Rồi ma quỉ lại nhằm vào khuynh hướng thích khoe khoang, nhất là sự khoe khoang đó lại không đúng sự thật. Nhiều khi chỉ cần một câu nói thách thức hay chạm tự ái là người ta làm theo thách thức đó. Một số bạn trẻ rơi vào xì ke, ma tuý cũng chỉ vì một lời thách thức hay khiêu khích gì đó. Đối với Chúa Giêsu, Ngài đã làm chủ tính khoe khoang. Ngài không bị mắc bẫy.
Có thể nói ai trong chúng ta cũng đều có kinh nghiệm về việc cám dỗ. Chúng ta đã bị cám dỗ nhiều lần. Có lần chúng ta đã vượt qua được, và nhiều lần chúng ta đã bị vấp ngã. Đó chính là thân phận của con người yếu hèn và bất toàn. Vì vậy điều quan trọng là chúng ta phải luôn đề cao cảnh giác trước những quyến rũ, hấp dẫn của cám dỗ. Không nên quá tự tin vào khả năng của mình mà không cầu nguyện cùng Chúa. Mỗi khi bị cám dỗ chúng ta càng phải cầu nguyện nhiều để xin ơn Chúa trợ giúp. Và nếu chẳng may vấp ngã, chúng ta phải năn năn sám hối ngay.
  
 

21. Chiến đấu

Thánh lễ hôm nay các con thấy có gì đặc biệt nào? Phải rồi, cha mặc lễ phục màu tím, thầy cũng đeo dây tím, các bạn lễ sinh cũng mang khăn tím. Vậy là chúng ta đã vào một mùa phụng vụ mới, mùa gì nào? Đúng rồi, mùa chay. Hôm nay là Chúa nhật I mùa chay. Mùa chay là thời gian thuận tiện để chúng ta theo gương Đức Kitô tập luyện chiến đấu chống lại ma quỉ. Bài Tin Mừng hôm nay cho biết Chúa Giêsu ba lần bị ma quỉ cám dỗ và cả ba lần Ngài đã chiến thắng thật vẻ vang.
Lần thứ nhất, sau khi Chúa Giêsu ăn chay cầu nguyện, không ăn gì cả suốt 40 ngày, Ngài đói meo, lúc đó ma quỉ tới cám dỗ Ngài: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì truyền cho hòn đá này biến thành bánh đi”. Ma quỉ muốn Ngài dùng quyền phép để dễ dãi thoả mãn cơn đói của riêng mình, chẳng cần phải vất vả làm việc. Chúa Giêsu phản công làm sao? Người đã dùng một câu trong sách thánh: “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh”.
Lần thứ hai, quỉ cho Chúa Giêsu thấy tất cả các nước trên thế gian, mọi thú vui và giàu sang, rồi nó dám lếu láo nói với Chúa: “Nếu ông thờ lạy tôi, tôi sẽ cho ông toàn quyền cai trị các nước đó”. Sức mấy mà Chúa Giêsu chịu thờ lạy nó, Người quả quyết: “Ngươi phải thờ lạy Thiên Chúa và chỉ phụng thờ một mình Người”. Đây cũng lại là một câu trích trong sách thánh.
Lần thứ ba, quỉ đưa Chúa Giêsu lên nóc đền thờ Giêrusalem, nó dụ dỗ Chúa Giêsu: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì hãy gieo mình xuống đi… vì Thiên Chúa sẽ truyền cho thiên sứ gìn giữ ông”. Ma quỉ cám dỗ Chúa Giêsu thử thách Thiên Chúa, đồng thời biểu diễn phép lạ để mọi người thấy phải lác mắt thán phục. Chúa Giêsu mắng nó: “Ngươi chớ thử thách Thiên Chúa là Chúa của ngươi”. Lại một lần nữa Người chiến thắng ma quỉ bằng một câu trích trong sách thánh. Cả ba lần ma quỉ đều thua, thế là chúng phải rút lui.
Các con thấy đó, Chúa Giêsu mà còn bị ma quỉ cám dỗ huống hồ gì là chúng ta. Mọi người chúng ta đều bị ma quỉ cám dỗ. Các con bị cám dỗ, thầy cũng bị cám dỗ và chính cha mẹ các con cũng bị cám dỗ nữa.
Vậy theo các con cám dỗ là gì? À giỏi lắm, các con có thể hiểu nôm Ngài như thế: cám dỗ là những lời rủ rê chúng ta làm điều xấu, xúi giục chúng ta phạm tội. Thế thì ma quỉ cám dỗ chúng ta bằng cách nào? Phải chăng nó hiện ra thành một thằng quỉ đen thùi lùi, có đuôi dài, trên đầu có hai cái sừng để cám dỗ chúng ta? Không đâu! Trước hết nó có thể cám dỗ chúng ta qua những người khác. Đó có thể là những bạn xấu, khi họ rủ rê ta làm điều sai trái. Đó cũng có thể là những người xấu khi họ muốn lợi dụng chúng ta, làm hại chúng ta. Thầy nghe nói, có những bọn xấu, chúng đến tận các cổng trường, cho các em học sinh tiền bạc bánh kẹo, dụ dỗ các em học sinh hút thuốc hay dùng thuốc gây nghiện để rồi biến những em học sinh thành những kẻ nghiện ma tuý, phải mua hàng của chúng. Trong những trường hợp như thế này, các con phải làm sao? Phải chạy à? Đúng rồi, khi có người đề nghị các con điều gì các con không biết đúng hay sai, các con hãy chạy ngay lại thầy cô, cha mẹ để hỏi xem có được làm như thế hay không. Bọn xấu nghe nói các con đi hỏi cha mẹ thầy cô thì nó lỉnh đi liền.
Ngoài ra ma quỉ cũng có thể trực tiếp cám dỗ chúng con, nó bỏ nhỏ vào tai chúng con, nó xúi giục trong tâm trí chúng con, nên chúng con rất khó nhận ra chúng. Chẳng hạn bạn Rong, trên đường đi lễ, ngang qua chỗ trò chơi điện tử, ma quỉ nói nhỏ vào tai: còn sớm mà, vào đây coi một tí rồi ra ngay. Thế rồi Rong bước vào, nó lại rủ rê: chơi 15 phút thôi. Rong mê mải chơi và quên mất thời gian, thế là không đi lễ. Về nhà má hỏi đi đâu về trễ. Nghe ma quỉ xúi giục Rong lại nói dối má: con đi lễ và học giáo lý mới về.
Các con thấy đó, ma quỉ rất xảo trá, khi cám dỗ bao giờ ma quỉ cũng bày ra những hình ảnh hay đưa ra những lời dụ dỗ thật hấp dẫn, làm cho ta khoái, làm cho ta thích. Hơn thế nữa, ma quỉ rất lì lợm, cám dỗ một lần không được nó sẽ trở lại cám dỗ cách khác, cám dỗ nữa, cám dỗ hoài, cho đến khi ta chiều theo ý nó. Nó cũng lại rất ranh ma, quỉ quyệt chẳng bao giờ nó cám dỗ các con phạm tội nặng ngay, nhưng ban đầu nó xúi hãy bỏ qua việc này việc nọ, hay nó chỉ xúi phạm những tội nhẹ, một khi phạm tội nhẹ quen rồi, nó sẽ cám dỗ ta phạm tội nặng mấy hồi. Thế nên, các con đừng bao giờ dại dột nghe lời dụ dỗ của nó mà phạm tội, dù là phạm tội nhẹ, đừng giống như chú vịt trời trong câu chuyện sau đây:
Có một đàn vịt trời bay về phương nam để trú đông. Vào một buổi chiều cả đàn đáp xuống một nông trại, thấy vịt nhà đang ăn bắp, chúng ùa theo vào ăn ké. Hôm sau chúng lại tiếp tục cuộc hành trình. Thế nhưng có một chú vịt con, vì được một bữa ăn ngon nên không muốn bay theo đàn, nó tự nhủ để mai mốt bay theo cũng chưa muộn. Thế rồi, ngày qua ngày, chú vẫn ở lì với đàn vịt nhà để được ăn ngon mà chẳng phải vất vả gì. Mùa xuân về, đàn vịt trời bay qua. Các bạn cũ kêu gọi nó: “Hãy theo chúng tôi. Được bay lượn trên bầu trời rộng lớn, được chu du khắp mọi nơi, thích lắm!” Chú vịt trời ráng sức đập cánh bay lên, thế nhưng, những bữa ăn no nê làm nó mập ú, và đôi cánh lâu nay không bay trở nên yếu ớt nên nó chỉ bay là đà đến ngọn cây rồi té cái bịch xuống đất, nó không bay theo đàn được nữa. Thế là dần dần quen đi, nó cam lòng sống lẹt bẹt dưới đất với lũ vịt nhà.
Trở lại trường hợp bạn Rong trên kia, nếu Rong không chịu sửa lỗi, cứ nói dối mà trốn học, trốn lễ để chơi điện tử, rồi sẽ đến một ngày khi không có tiền, ma quỉ xúi giục ăn cắp của má một ít, của ba một ít, ngày này qua ngày khác… Thế là ăn cắp quen tay, lớn lên Rong có thể ăn cắp nhiều hơn, rồi đi ăn trộm, ăn cướp…
Các con thấy đó, kẻ thù của chúng ta đúng là lũ ranh ma quỉ quyệt, vậy làm sao chúng ta chống lại được chúng? Tuy ma quỉ gian tà giảo quyệt, nhưng chúng ta không sợ ma quỉ. Chúng con biết tại sao không? Tại vì chúng ta có Chúa. Chúa mạnh hơn ma quỉ, Chúa giỏi hơn ma quỉ. Có Chúa ở phe ta thì ma quỉ không làm gì chúng ta được. Vậy muốn thắng được ma quỉ các con phải có Chúa Giêsu và phải trang bị khí giới của Chúa Giêsu. Khí giới của Chúa Giêsu là gì? Đó là cầu nguyện, ăn chay hãm mình, đó là Lời Chúa trong sách thánh. Vậy muốn sắm cho được khí giới của Chúa Giêsu, trước hết các con hãy siêng năng sớm tối đọc kinh cầu nguyện; biết hy sinh hãm mình, nghĩa là biết chăm làm, chăm học, không làm biếng. Thứ đến là phải chăm chỉ học giáo lý, trong thánh lễ thì chăm chú nghe giảng để được biết về Chúa biết về những điều Ngài dạy. Để có Chúa thì phải làm sao? Phải năng lãnh nhận các bí tích nhất là bí tích giải tội và Thánh Thể. Mỗi khi tham dự thánh lễ, lãnh nhận Mình Thánh Chúa là các con được lãnh nhận chính Chúa Giêsu, chính Ngài chiến đấu trong các con, tiếp thêm sức mạnh cho các con. Ước chi trong mùa chay này, các con biết luôn tin tưởng bám chặt vào Chúa, được vậy ma quỉ sẽ chẳng thể làm gì hại các con, bởi vì Chúa sẽ luôn trợ giúp và bảo vệ các con như lời Kinh Thánh mà thánh Phaolô lập lại trong bài đọc 2 hôm nay: “Ai đặt niềm tin vào Chúa, sẽ không phải thất vọng” và “Ai kêu cầu danh Chúa, sẽ được cứu thoát”.
 





Đăng nhận xét

Author Name

{picture#https://lh5.googleusercontent.com/-ByFuWcC-oNQ/T2R65V5J99I/AAAAAAAACtM/H3Q_zcI_uTU/s446-no/loc%2Bthuy.jpg} Sẻ chia tri thức và những góc nhìn cuộc sống {facebook#https://www.facebook.com/giaoxulocthuy} {google#https://plus.google.com/+gioitreLocthuy} {twitter#https://twitter.com/gioitrelocthuy} {youtube#https://www.youtube.com/user/gioitrelocthuy}

Haibang Hoang

{picture#https://fbcdn-sphotos-b-a.akamaihd.net/hphotos-ak-xpf1/v/t1.0-9/11742824_938154826223641_4414241196603248762_n.jpg?oh=88bbabe42ac42b70e9a133309bc93f02&oe=564571DD&__gda__=1444251831_928e7abd32139fab6630877f2a36b77f} Sẻ chia tri thức và những góc nhìn cuộc sống

Liên hệ với gioitrelocthuy.blogspot.com

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.